vanban.org

Bản án 27/2019/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Quốc A đối với chị Lê Thị Cẩm N về việc tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

Chị Lê Thị Cẩm N được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Trần Quốc H, sinh ngày 15/11/2011 và Trần Lê Xuân M, sinh ngày 12/12/2016 cho đến khi trưởng thành. Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Quốc A đối với chị Lê Thị Cẩm N về việc tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 27/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 20 - 3 - 2019
“V/v tranh chấp thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Bình An.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông La Văn Việt

Bà Trương Thị Kim Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Như Ý – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 20 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1348/2018/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2018 về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2019 và Quyết đinh hoãn phiên tòa số: 14/2019/QĐ-HPT ngày 06 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Quốc A, sinh năm 1982

Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh L

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh A: Ông Võ Văn Đ – Luật sư, Chi nhánh Văn phòng Luật sư P thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L.

- Bị đơn: Chị Lê Thị Cẩm N, sinh năm 1988

Địa chỉ: Ấp 1, xã Đ, huyện Đ, tỉnh L.

(Anh A có mặt, chị N vắng mặt – Đã triệu tập hợp lệ)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 05 tháng 11 năm 2018 và những lời khai tiếp theo trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Trần Quốc A trình bày: Anh và chị Lê Thị Cẩm N đã ly hôn theo Quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 608/2018/QĐST-HNGĐ ngày 25/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa. Khi ly hôn, chị N được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là Trần Quốc H, sinh ngày 15/11/2011 và Trần Lê Xuân M, sinh ngày 12/12/2016, anh A không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị N không yêu cầu. Tuy nhiên, từ khi ly hôn cho đến nay, chị N phải gởi 02 con cho ông bà ngoại đã cao tuổi chăm sóc do không có việc làm ổn định. Vì điều kiện chăm sóc con của chị N không đảm bảo nên anh khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung tên là Trần Quốc H, sinh ngày 15/11/2011, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con. Ngoài ra, anh không còn yêu cầu gì khác.

Bị đơn chị Lê thị Cẩm N trình bày tại Bản tự khai ngày 07/01/2019: Chị thừa nhận chị và anh Trần Quốc A đã ly hôn nhau theo Quyết định số: 608/2018/QĐST-HNGĐ ngày 25/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Từ khi ly hôn nhau cho đến nay, chị là người trực tiếp nuôi 02 con chung là Trần Quốc H, sinh ngày 15/11/2011 và Trần Lê Xuân M, sinh ngày 12/12/2016, anh A không phải cấp dưỡng nuôi con.

Việc nuôi dưỡng và chăm sóc các con, chị vẫn đảm bảo và chu đáo, các con vẫn phát triển và khỏe mạnh bình thường nên chị không đồng ý với yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung tên Trần Quốc H của anh Trần Quốc A.

Tại văn bản ngày 07/01/2019, con chung của anh A và chị N là Trần Quốc H có nguyện vọng sống với chị N.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vụ án nhưng anh A và chị N không thỏa thuận được việc nuôi con chung là Trần Quốc H.

Tại phiên tòa, anh Trần Quốc A giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với chị Lê Thị Cẩm N về việc xin thay đổi việc nuôi con chung là Trần Quốc H và không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con. Đối với chị N thì vắng mặt tại phiên tòa.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Trần Quốc A cho rằng theo Quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 608/2018/QĐST-HNGĐ ngày 25/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thì chị N được quyền nuôi 02 con chung là Trần Quốc H và Trần Lê Xuân M. Qua lời trình bày của anh A tại phiên tòa thì hiện nay anh A có công việc, thu nhập ổn định. Anh A là cha của các cháu Quốc H và Xuân M, việc anh A xin nuôi cháu Quốc H là chia sẻ một phần gánh nặng với chị N trong việc nuôi các con chung vì hiện nay chị N chưa có nhà riêng, điều kiện kinh tế khó khăn không đủ điều kiện đảm bảo để nuôi con chung, đồng thời chị N cũng không chứng minh được điều kiện nuôi con chung của chị nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh A.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

1.1. Anh Trần Quốc A khởi kiện chị Lê Thị Cẩm N yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn là thuộc quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình.

2.2. Chị Lê Thị Cẩm N hiện có hộ khẩu thường trú tại ấp 1, xã Đ, huyện Đ, tỉnh L và có mặt tại địa phương nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

2.3. Tại phiên tòa Chị Lê Thị Cẩm N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị N theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về nội dung vụ án: Anh Trần Quốc A và chị Lê Thị Cẩm N đã ly hôn với nhau theo Quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 608/2018/QĐST-HNGĐ ngày 25/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa. Khi ly hôn, về con chung chị Lê Thị Cẩm N được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là Trần Quốc H, sinh ngày 15/11/2011 và Trần Lê Xuân M, sinh ngày 12/12/2016. Anh A và chị N đều có lời trình bày từ khi ly hôn cho đến nay, con chung Trần Quốc H do chị N trực tiếp nuôi dưỡng, nhưng anh A cho rằng trong thời gian chị N trực tiếp nuôi con, chị N có gặp nhiều khó khăn trong việc chăm sóc con do bận việc và hiện nay chị N chưa có việc làm ổn định nên không có thời gian và điều kiện kinh tế chăm sóc con chu đáo, cháu H phải thường xuyên ở với ông bà ngoại và tự đi học một mình không có người đón rước.

Ngoài ra, anh A cho rằng hiện nay anh có việc làm ổn định và có thu nhập thêm từ việc cho thuê kiốt, thu nhập hàng tháng 8.000.000 đồng đủ điều kiện để nuôi con. Đồng thời anh A còn cho rằng khi anh đến thăm nom, chăm sóc con chung thì chị N ngăn cản, không tạo điều kiện để anh được thăm nom các con nhưng anh A không có chứng cứ gì để chứng minh lời anh trình bày.

Đối với con chung Trần Quốc H có nguyện vọng sống với chị Lê Thị Cẩm N nên tiếp tục giao con tên Trần Quốc H cho chị N nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Trần Quốc A đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh A về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung là Trần Quốc H do hiện nay anh A có nghề nghiệp ổn định thu nhập cao hơn thu nhập của chị N. Ngoài ra, việc anh A xin nuôi con chung là để chia sẻ gánh nặng với chị N để việc nuôi con chung được đảm bảo, điều kiện nuôi các cháu được tốt hơn, cháu H sẽ không tự đi học một mình mà anh A sẽ đưa đón cháu hằng ngày nhưng những lời trình bày của anh A không chứng minh được việc chị N nuôi các con chung là chưa chu đáo nên quan điểm bảo vệ quyền lợi của Luật sư là không có căn cứ. Vì vậy, xét yêu cầu khởi kiện của anh Trần Quốc A đối với chị Lê Thị Cẩm N về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung Trần Quốc H là không có căn cứ chấp nhận.

Do đó, để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển ổn định của con chung là Trần Quốc H cần tiếp tục giao cháu H cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng.

. Về án phí: Buộc anh Trần Quốc A phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sung công quỹ Nhà nước theo quy định khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Quốc A đối với chị Lê Thị Cẩm N về việc tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

Chị Lê Thị Cẩm N được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Trần Quốc H, sinh ngày 15/11/2011 và Trần Lê Xuân M, sinh ngày 12/12/2016 cho đến khi trưởng thành.

Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí: Anh Trần Quốc A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0003924 ngày 24/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An. Anh Trần Quốc A không phải nộp tiếp.

Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Long An;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Đức Hòa;

- Chi cục THADS huyện Đức Hòa;

- Đương sự;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Đã ký

Đỗ Bình An THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Thảnh Nguyễn Thanh Hoàng – La Văn Việt

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 52-DS:

Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Toà án khi xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án sơ thẩm kèm theo:

(1) Nếu là Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi rõ tên Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội); nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) đó (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam).

(2) Ô thứ nhất ghi số bản án, ô thứ hai ghi năm ra bản án, ô thứ ba ghi ký hiệu loại bản án (ví dụ: Nếu là bản án giải quyết tranh chấp về dân sự năm 2017 có số 100 thì ghi: “Số:100/2017/DS-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình năm 2017 có số 108 thì ghi: “Số:108/2017/HNGĐ-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại năm 2017 có số 110 thì ghi: “Số:110/2017/KDTM-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về lao động năm 2017 có số 115 thì ghi: “Số:115/2017/LĐ-ST”).

(3) Ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày.

(4) Ghi quan hệ tranh chấp mà Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết được quy định tại Điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng dân sự, để ghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”).

(5) Ghi như hướng dẫn tại điểm (1).

(6) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà, bỏ dòng “Thẩm phán...”, đối với Hội thẩm nhân dân chỉ ghi họ tên của hai Hội thẩm nhân dân; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân. Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán; chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân.

(7) Ghi họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(8) Nếu có Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà thì ghi như hướng dẫn tại điểm (1) song đổi các chữ “Toà án nhân dân” thành “Viện kiểm sát nhân dân”.

(9) Trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ “Trong các” (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi “Trong các ngày” (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi: “Từ ngày đến ngày” (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(10) Nếu xét xử kín thì thay cụm từ “công khai” bằng từ “kín”.

(11) Ô thứ nhất ghi số thụ lý, ô thứ hai ghi năm thụ lý và ô thứ ba nếu là tranh chấp về dân sự thì ghi “DS”; nếu là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì ghi “HNGĐ”; nếu là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì ghi “KDTM”; nếu là tranh chấp về lao động thì ghi “LĐ” (ví dụ: số 18/2017/TLST-HNGĐ).

(12) Ghi như hướng dẫn tại điểm (4).

(13) Nguyên đơn là cá nhân thì ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). Nguyên đơn là cơ quan, tổ chức thì ghi tên cơ quan, tổ chức và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đó.

(14) Chỉ ghi khi có người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và ghi họ tên, địa chỉ cư trú; ghi rõ là người đại diện theo pháp luật hay là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; nếu là người đại diện theo pháp luật thì cần ghi chú trong ngoặc đơn quan hệ giữa người đó với nguyên đơn; nếu là người đại diện theo uỷ quyền thì cần ghi chú trong ngoặc đơn: “văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...”.

Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A trú tại... là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Công ty TNHH Thắng Lợi).

Ví dụ 2: Bà Lê Thị B trú tại... là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...).

(15) Chỉ ghi khi có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là Luật sư thì ghi là Luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào); nếu có nhiều nguyên đơn thì ghi cụ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nào.

(16) và (19) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (13).

(17) và (20) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (14).

(18) và (21) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (15).

(22) Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên).

(23) Ghi họ tên, chức danh, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).

(24) Ghi họ tên, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).

(25) Trong phần này ghi rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ý kiến của Viện kiểm sát; ghi ngắn gọn, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án; ghi rõ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất, không thống nhất; đối với các tình tiết của vụ án mà các bên không thống nhất thì phải ghi rõ lý lẽ, lập luận của từng bên đương sự.

(26) Ghi nhận định của Tòa án về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án (về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung). Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án; phân tích, viện dẫn những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự; yêu cầu, đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (nếu có); yêu cầu, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát (nếu có); giải quyết các vấn đề khác có liên quan. Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tùy từng trường hợp mà Tòa án phân tích, lập luận về việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ tự trong dấu [ ].

(27) Tùy từng trường hợp mà ghi rõ các căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(28) Ghi các quyết định của Tòa án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó. Đối với trường hợp xét xử sơ thẩm lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì ghi vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy; trường hợp có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phải ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án.

(29) Phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát thì ghi như sau:

Cỡ chữ