vanban.org

Bản án 27/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 29/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Phan Tấn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2] Xử phạt: Phan Tấn Lực 09 (chín) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Trộm cắp tài sản - Bị cáo Phan Tấn Lực - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Phan Tấn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 27/2018/HSST
Ngày: 29/3/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Phương Quyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Thành Thật.

Bà Mai Thị Ngọc Hân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2018, tại Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2018/HSST ngày 02/3/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:

Phan Tấn L, sinh ngày 06/8/1999 tại Long Xuyên, An Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 21/10B, khóm Đông Thạnh , phường Mỹ T, Tp.Long Xuyên, An Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; con ông Phan Văn C, sinh năm 1964 và bà Lê Thị Bé N, sinh năm 1969; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giam ngày 23/12/2017 đến nay và có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Nguyễn Thị MinhT, sinh năm 1967; Nơi cư trú: 6/4B đường số 3, Cư xá Lữ Gia, phường 15, quận 11, Tp.Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 15/11/2017, Phan Tấn L đến Phà Vàm Cống, phường Mỹ Thạnh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang thì thấy chị Nguyễn Thị Minh T dừng xe ô tô biển số 51A-250.07 xuống xe mua vé qua phà nên nảy sinh ý định đến lấy trộm tài sản. Lợi dụng lúc trị T đang mua vé qua phà và không quan sát, L đến mở cửa xe phía trước bên phải lấy trộm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S-64Gb màu xám, gắn ốp lưng màu xanh để gần cần số rồi bỏ đi. Chị T quay lại phát hiện liền truy đuổi L nhưng không kịp nên chị đến Công an phường Mỹ Thạnh trình báo sự việc. Sau đó biết hành vi trên của mình bị phát hiện nên ngày 16/12/2017, L đem điện thoại giấu trong bụi cỏ ở khu dân cư Trung Đoàn 3, khóm Đông Thạnh, phường Mỹ Thạnh rồi điện thoại cho Công an phường Mỹ Thạnh đến thu giữ tang vật. Đến ngày 23/12/2017, L bị bắt để điều tra.

Kết luận định giá tài sản số 125/KL.HĐ ngày 17/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Long Xuyên xác định:

- Điện thoại Iphone 6S-64Gb,đã qua sử dụng, còn lại 60%, giá trị 9.750.000đ.

Cáo trạng số: 24/VKS-HS ngày 02/3/2018 của Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Long Xuyên, truy tố Phan Tấn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (tương ứng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015).

Tại phiên toà sơ thẩm:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (tương ứng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015); Điều 38; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Phan Tấn L từ 06 tháng đến 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Nguyễn Thị Minh T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự nên đề nghị không xét đến.

Bị cáo Phan Tấn L khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về nội dung vụ án, về tội danh và hình phạt. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Long Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, Kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự:

Vào ngày 15/11/2017, Phan Tấn L đến Phà Vàm Cống, phường Mỹ Thạnh, thành phố Long Xuyên, thấy chị Nguyễn Thị Minh T dừng xe ô tô biển số 51A-250.07 xuống xe mua vé qua phà nhưng không khóa cửa xe, bị cáo đã lén lút mở cửa bên phải xe ô tô lấy trộm điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S-64Gb màu xám, trị giá 9.750.000đ của chị T. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra là phù hợp nhau và phù hợp với lời khai của người bị hại chị Nguyễn Thị Minh T; kết luận định giá tài sản số 125/KL.HĐ ngày 17/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Long Xuyên cùng các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra vụ án.

Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo Phan Tấn L về tội “Trộm cắp tài sản”, được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (tương ứng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015) là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người trưởng thành, khoẻ mạnh đủ khả năng nhận thức được hành vi của bản thân. Lẽ ra bị cáo phải biết tìm cho mình một công việc thích hợp để tạo thu nhập chính đáng nuôi sống bản thân, phụ giúp gia đình và sống có ích cho xã hội, thế nhưng do lười biếng lao động, thích hưởng thụ muốn có tiền một cách nhanh chống để tiêu xài mà không phải tốn công sức nên bị cáo đã cố ý phạm tội bằng thủ đoạn lợi dụng sơ hở của những hành khách đang chờ mua vé qua phà không cẩn trọng trong việc bảo vệ tài sản để lén lút lấy trộm tài sản. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội tại nơi đông người gây bức xúc trong dư luận, làm mất trật tự trị an tại địa phương ảnh hưởng xấu đến đời sống văn minh nơi đô thị. Do đó cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, sống biết tôn trọng pháp luật và răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên có xem xét, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi bị phát hiện, bị cáo điện thoại cho cơ quan công an chỉ nơi cất giấu điện thoại để thu hồi giao trả cho bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 nên được Hội đồng xét xử xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị T đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phan Tấn L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999 (tương ứng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015); Điều 38; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41-NQ-QHH ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.

[1] Tuyên bố bị cáo Phan Tấn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2] Xử phạt: Phan Tấn Lực

09 (chín) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2017.

[3] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ