vanban.org

Bản án 27/2018/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Thái Bình Tuyên án 15/05/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/05/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình về việc áp dụng biện pháp tư pháp buộc bị cáo Tạ Văn Đ phải nộp sung quỹ Nhà nước số tiền 1.

Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Tại Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ văn Đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình về việc áp dụng biện pháp tư pháp buộc bị cáo Tạ Văn Đ phải nộp sung quỹ Nhà nước số tiền 1.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2018/HSPT
Ngày: 15-5-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Hà.

Các thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Phương Thảo.

Bà Tô Thị Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh - Thư ký TAND tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Điệp - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2018/HSPT ngày 19 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo Tạ Văn Đ do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đối với bản án hình sự sơ thẩm số 09/2018/HSST ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

- Bị cáo bị kháng nghị:

Tạ Văn Đ, sinh năm 1991 tại xã T G, huyện T, tỉnh Thái Bình.

Nơi cư trú: thôn N, xã T G, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông: Tạ Xuân K sinh năm 1968 và bà: Bùi Thị N sinh năm 1967; tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 130/2017/QĐ-XPHC ngày 17/8/2017 của Công an huyện Tiền Hải xử phạt Tạ Văn Đ với hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; tiền án: không; bị tạm giam ngày 26/10/2017. (có mặt)

- Những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng nghị:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Tạ Văn Tr, sinh năm 1996; nơi cư trú: thôn Đ, xã T G, huyện T, tỉnh Thái Bình. (có mặt)

Trong vụ án còn có người bị hại là anh Nguyễn Văn C không có kháng cáo, không liên quan đến kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 23/10/2017, Tạ Văn Đ đi bộ theo hướng xã Tây Giang đi xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình với mục đích để trộm cắp tài sản, khi đến thôn Trình Nhất Đông, xã An Ninh, huyện Tiền Hải, Đphát hiện thấy nhà anh Nguyễn Văn C mới xây chưa lắp cánh cửa nên Đ lẻn vào nhà. Khi vào trong nhà thấy ở phòng khách có 01 chiếc xe đạp điện và 01 chiếc xe mô tô nhưng không lấy trộm được, nên Đ đi sang phòng bên cạnh thấy vợ chồng anh C đang ngủ. Đ quan sát tìm tài sản thì nghe thấy tiếng chuông báo tin nhắn điện thoại để ở đầu giường, Đ lại gần thì phát hiện có 01 chiếc ví giả da và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5SE màu trắng để ở đầu giường. Đ vén màn lấy chiếc ví và điện thoại nhưng thấy anh C trở mình, Đ sợ bị phát hiện nên lấy chiếc ví đi ra ngoài sân, kiểm tra thấy có 158.000 đồng. Đ lấy tiền bỏ vào túi quần sau, vứt lại chiếc ví xuống sân rồi tiếp tục quay lại phòng ngủ của anh C lấy chiếc điện thoại. Sau khi trộm cắp được tài sản Đ ra lều trông vịt ở cánh đồng xã Tây Giang ngủ. Đến khoảng 07 giờ 00 phút cùng ngày Đ đi bộ ra quán Tuấn Tú để chơi game và nhắn tin cho anh Tạ Văn Tr là chủ cửa hàng điện thoại Ngọc Trung để bán điện thoại vừa trộm cắp, sau đó Đ gọi điện cho anh họ là Trần Văn Q ở thôn Nam, xã Tây Giang nhờ chở ra quán anh Tr để bán điện thoại. Khi Đ cầm điện thoại vào quán, anh Tr hỏi chiếc điện thoại ở đâu thì Đ trả lời là “của mẹ thằng bạn nhờ bán hộ”, nghe Đ nói vậy anh Tr đồng ý mua với giá 1.100.000 đồng, toàn bộ số tiền trộm cắp và tiền bán chiếc điện thoại Tạ Văn Đ tiêu dùng cá nhân hết. Sau khi được cơ quan Công an thông báo, anh Tạ Văn Tr đã tự nguyện giao nộp lại chiếc điện thoại Iphone 5SE và cơ quan điều tra đã trả lại cho anh C chiếc điện thoại này.

Bản kết luận định giá tài sản do hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tiền Hải lập ngày 26/10/2017 kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5SE màu trắng, số Imei 353846084313401 đã qua sử dụng có giá trị ở thời điểm hiện tại là 3.000.000 đồng.

Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2018/HSST ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình quyết định:

1. Tuyên bố bị cáo Tạ Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Tạ Văn Đ 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 26/10/2017.

3. Về vật chứng và trách nhiệm dân sự trong vụ án: không đặt ra giải quyết.

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 08/3/2018, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình có kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐ-VKSTB kháng nghị một phần bản án hình sự sơ thẩm số 09/2018/HSST ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tiền hải về phần áp dụng biện pháp tư pháp. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử vụ án theo trình tự phúc thẩm, sử a bả n án sơ thẩ m theo hướ ng : Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tuyên buộc bị cáo Tạ Văn Đ phải nộp sung quỹ Nhà nước số tiền 1.100.000 đồng là số tiền bị cáo có được do bán tài sản phạm tội mà có.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:

- Bị cáo Tạ Văn Đ thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo trình bày do anh Tr không yêu cầu bị cáo hoàn trả và cho bị cáo số tiền đã mua điện thoại là 1.100.000 đồng, nên bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, đề nghị giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

- Anh Tạ Văn Tr trình bày không yêu cầu bị cáo Đ phải hoàn trả số tiền mà anh Tr đã mua điện thoại là 1.100.000 đồng và anh Tr tự nguyện cho bị cáo Đ số tiền này.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên kháng nghị, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 106, điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa án sơ thẩm về phần áp dụng biện pháp tư pháp tuyên buộc bị cáo Tạ Văn Đ phải nộp sung quỹ Nhà nước số tiền 1.100.000 đồng là số tiền bị cáo có được do bán tài sản phạm tội mà có.

Căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Xét kháng nghị số 02/QĐ-VKSTB ngày 08/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình là trong thời hạn luật định là hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.

Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình thấy: Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 23/10/2017, tại gia đình anh Nguyễn Văn C, Tạ Văn Đ đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc ví giả da trong có 158.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5SE màu trắng trị giá là 3.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn C. Sau khi trộm cắp được chiếc điện thoại, Đ mang bán cho anh Tạ Văn Tr được 1.100.000 đồng, Đ sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Xét thấy số tiền 1.100.000 đồng là khoản tiền do bị cáo Đ bán chiếc điện thoại đã trộm cắp được cho anh Tạ Văn Tr. Đây đúng là số tiền bị cáo có được do thu lợi bất chính. Tuy nhiên sau khi biết tài sản trên là tài sản do Tạ Văn Đ trộm cắp, anh Tạ Văn Tr đã tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại cho Cơ quan điều tra và có lời khai không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã mua chiếc điện thoại, không đề nghị cơ quan pháp luật giải quyết vấn đề dân sự giữa anh Tr và bị cáo Đ. Tại phiên Tòa phúc thẩm, anh Tr không yêu cầu bị cáo Đ phải hoàn trả số tiền mà anh Tr đã mua điện thoại là 1.100.000 đồng và anh Tr tự nguyện cho bị cáo Đ số tiền này. Xét thấy, việc anh Tr không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền đã mua điện thoại và tự nguyện cho bị cáo Đ số tiền này là hoàn toàn tự nguyện và là quyền dân sự của anh Tr, do đó án sơ thẩm đã không buộc bị cáo phải nộp sung công quỹ Nhà nước số tiền 1.100.000 đồng là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình về việc đề nghị buộc bị cáo Tạ Văn Đ phải nộp sung quỹ Nhà nước số tiền 1.100.000 đồng, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

. Về án phí: Bị cáo Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

1. Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình về việc áp dụng biện pháp tư pháp buộc bị cáo Tạ Văn Đ phải nộp sung quỹ Nhà nước số tiền 1.100.000 đồng là số tiền bị cáo có được do bán tài sản phạm tội mà có. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Tại Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 15/5/2018./

Cỡ chữ