- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Ngọc L phạm tội "Giết người" - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trịnh Ngọc L phạm tội “Giết người”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2018/HS-ST Ngày: 08-8-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Giang
Thẩm phán:
Bà Lê Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Bảo Trường
Bà Nguyễn Thị Hồng Minh
Bà Lê Thị Đổi
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 14/2018/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2018/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:
Trịnh Ngọc L, sinh năm 1984 tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: Ấp 04, xã BĐ, huyện GD, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Ngọc Nh, sinh năm 1942 và bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1948; có vợ tên Trần Thúy A, sinh năm 1986 và có 03 người, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không có.
Bị tạm giam từ ngày 13/12/2017 cho đến nay. (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Võ Tùng Q là luật sư Văn phòng luật sư Q thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
Bị hại: Ông Nguyễn Tấn L1 (Đỏ), sinh năm 1990. Nơi cư trú: Ấp 04, xã BĐ, huyện GD, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
Người làm chứng:
1/. Ông Bùi Tấn Đ, sinh năm 1989. (có mặt)
Nơi ĐKHTT: Ấp AH, xã AC, huyện CB, tỉnh Tiền Giang.
Tạm trú: Ấp LT, xã LG, huyện ĐH, tỉnh Long An.
2/. Ông Phan Đình T, sinh năm 1992.
Nơi ĐKHHTT: ấp TL, xã TH, huyện TC, tỉnh Tây Ninh.
Tạm trú: Ấp PĐ, xã PĐ, huyện GD, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 13/12/2017, Trịnh Ngọc L cùng với các anh Nguyễn Văn N, Phan Hoài A, Nguyễn Văn C đến quán nhậu của bà H tại ấp 04, xã BD, huyện GD, tỉnh Tây Ninh để uống rượu. Khi đến quán thì có hai bàn khách đang uống rượu, trong đó có bàn của anh Nguyễn Tấn L1 (Đỏ), Phan Đình T và Bùi Tấn Đ. Bàn của L và L1 cách nhau khoảng 03 mét, khi bàn của L mỗi người uống khoảng 2-3 chai bia Sài Gòn thì bàn của L1 ra về, Đạt điều khiển xe môtô đi về trước, sau đó L1 và thu đi ra sau, khi đi ngang bàn của L thì N và A đứng dậy đi lại gần T và hỏi có phải T là người đã đánh A hôm trước hay không? T sợ bị đánh nên bỏ chạy, N và A đuổi theo khoảng 10 mét đuổi không kịp nên bỏ và quay lại quán nhậu. Lúc này, tại quán nhậu L1 xảy ra cự cãi giữa L1 với Nvà A về việc đuổi theo T, N và A bỏ đi về phía bàn của L ngồi, L1 đi theo. Do mâu thuẫn về việc L1 còn thiếu nợ tiền bia của L, nên khi thấy L1 bước tới bàn của mình, L nhìn thấy trên thùng xốp có một con dao chặt đá và một con dao màu trắng thì L lấy con dao chặt đá đứng đối diện với L1. L1 thách thức, L cầm dao chém từ phải qua trái trúng vào bên trái cổ của L1, L1 ngã xuống đất trong tư thế nằm nghiêng mặt quay về hướng đường lộ, đầu và lưng quay vào hướng trong quán. Thấy L1 ngước đầu lên, L tiếp tục chém và la lớn “Tao chém chết mẹ mày luôn” và cầm dao bằng hai tay khom người xuống nhắm vào đầu L1 chém, L tiếp tục giơ dao lên chém tiếp thì bị mọi người trong quán can ngăn nên L dừng tay, L1 được đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Củ chi và xuất viện vào ngày 25/12/2017.
Kết luận giám định số: 318/C54 ngày 14/3/2018 của Phân viện Khoa học hình sự - Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Trên con dao lưỡi răng cưa gửi đến giám định có dính máu người, phân tích gen (ADN) từ các mẫu máu này được một kiểu gen nam giới hoàn chỉnh và trùng với kiểu gen của nạn nhân Nguyễn Tấn L1.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 24/2018/TgT ngày 31/01/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Tây Ninh, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Tấn L1 là 49%.
Tại bản Cáo trạng số: 07/CT-VKS-P2 ngày 02/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Trịnh Ngọc L về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh giữ nguyên nội dung cáo trạng và đề nghị: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 57 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo L từ 12 năm đến 14 năm tù. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường số tiền là 100.000.000 đồng, đã bồi thường 57.000.000 đồng, bị cáo còn phải bồi thường 43.000.000 đồng.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Xem xét nguyên nhân, động cơ ban đầu, mâu thuẫn là do từ phía bị hại có thách thức, từ đó bị cáo bức xúc và góc độ nào đó đã uống rượu không kiềm chế được bản thân, đề nghị xem xét lại tình tiết có tính chất côn đồ, theo văn bản số 38 của Tòa án nhân dân tối cao thì tình tiết có tính chất côn đồ là hành động coi thường pháp luật, vô cớ hay chỉ là mâu thuẫn nhỏ nhặt... Thống nhất hành vi dùng dao chém vào vùng trọng yếu của cơ thể nhưng áp dụng tình tiết côn đồ trong vụ án này hơi nặng.
Sau khi gây án bị cáo tác động gia đình bồi thường, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú, có lỗi của người bị hại và bị hại đã xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Có nhiều tình tiết giảm nhẹ đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999 nay là Điều 54 Bộ luật Hình sự áp dụng mức án dưới khung hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo không tranh luận.
Bị hại không tranh luận: Xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin được xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Trịnh Ngọc L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời trình bày của bị hại, người làm chứng và tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Bị cáo Trịnh Ngọc L và bị hại Nguyễn Tấn L1 là hàng xóm láng giềng, ngày 12/12/2017 bị cáo và bị hại gây gỗ, cải nhau về việc bị hại L1 thiếu nợ tiền chưa trả, vào ngày 13/12/2017 tại quán nhậu của bà Huyền và ông Đạt, trong lúc lời qua tiếng lại bị cáo L đã dùng dao chặt nước đá lưỡi răng cưa dài 37cm (cán bằng kim loại tròn dài 10cm, lưỡi dao dài 27cm, rộng 09cm có nhiều răng cưa) chạy đến đứng đối diện với bị hại L1 chém từ trên xuống, từ phải sang trái trúng vào cổ bên trái, làm L1 ngã xuống đất, bị cáo tiếp tục dùng hai tay cầm dao chém thẳng vào đầu bị hại L1 và nói “Tao chém cho mày chết”, gây hậu quả 02 vết thương vùng chẩm dài 1,5cm, sâu 03cm thủng sọ, gây ổ khuyết sọ vùng chẩm trái kích thước 04 x04 cm đáy phập phồng; 02 vết thương vùng chẩm trái từ trên xuống kích thước 01 x 01cm và 0,8 x 0,5cm, vết thương vùng thái dương trái kích thước 2,5 x 0,8cm, vết sẹo trán phải kích thước 4 x0,5cm , 04 vết sẹo từ trước ra sau vùng cổ bên trái ... máu tụ ngoài màng cứng vùng chẩm trái, mất xương bản sọ vùng đỉnh chẩm trái, kích thước 04cm. Tại kết luận giám định pháp y số 24/2018/TgT ngày 31/01/2018 của Trung tâm y tế tỉnh Tây Ninh kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại L1 là 49%, việc bị hại không chết là ngoài ý muốn của bị cáo. Có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trịnh Ngọc L phạm tội “Giết người”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm n khoản 1 Điều 93 của Bộ luật Hình sự năm 1999 nay là điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự đang có hiệu lực thi hành.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
Tính chất vụ án đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của bị cáo gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội, bị cáo nhận thức rõ việc dùng dao chém liên tiếp nhiều cái vào vùng đầu, cổ của người khác là rất nguy hiểm đến tính mạng của con người nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện vì mục đích động cơ ích kỷ, tư thù cá nhân, bất chấp pháp luật, cần xử lý nghiêm bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thấy rằng: Bị cáo và bị hại là hàng xóm với nhau, xuất phát từ việc bị hại thiếu vài trăm ngàn đồng, trước đó (ngày 12/12/2017) đã có mâu thuẫn với nhau rồi, đến ngày 13/12/2017 gặp nhau tại quán nhậu thì giữa bị cáo và bị hại đều không có đề cặp đến việc thiếu tiền mà chỉ xuất phát từ lời nói hiềm khích của bị hại L1 đối với N và A người nhậu chung với L, từ đó bị cáo bực tức liền nảy sinh ý định dùng dao chém bị hại và đã lấy dao chặt nước đá tại quán, chạy đến chém liên tục nhiều cái vào vùng đầu, vùng cổ bị hại thể hiện tính côn đồ với ý thức quyết tâm phạm tội.
Như vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo L về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Về bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa, bị cáo và bị hại thỏa thuận số tiền bồi thường là 100.000.000 đồng, bị hại đã nhận số tiền 27.000.000 đồng, gia đình bị cáo nộp số tiền 30.000.000 đồng tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh theo biên lai số 0008400 ngày 02 tháng 3 năm 2018. Hội đồng xét xử ghi nhận.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, cụ thể:
- Về tình tiết tăng nặng: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi gây án bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại L1 27.000.000 đồng và trong giai đoạn chuẩn bị xét xử gia đình bị cáo đã nộp 30.000.000 đồng để tiếp tục khắc phục hậu quả; bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải. Trong vụ án này, có xem xét thái độ và những lời nói mang tính hiềm khích của bị hại L1. Sau khi gây án, bị cáo đến công an đầu thú; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại L1 xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 nay là điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với xe mô tô màu xanh biển số đã cũ không rõ số, số máy C50E-245286, không rõ số khung cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo. Xét thấy, xe trên không có giấy tờ chứng minh ai là chủ sở hữu nên chuyển giao cho Công an tỉnh Tây Ninh xử lý theo quy định.
Tịch thu tiêu hủy hung khí dùng vào việc phạm tội và đồ vật không còn giá trị sử dung:
- 01 con dao chặt nước đá dài 37cm, loại mũi bằng, cán kim loại tròn, đường kính 03cm, dài 10cm, phần lưỡi dài 27cm, rộng 09cm, dài 04,4cm, có nhiều răng cưa.
- 01 con dao dài 30cm, lưỡi kim loại dài 18cm, rộng nhất 06 cm, loại 01 cạnh sắc, trên phần lưỡi có chữ “Kiwi brand stainless stell”, phần cán gỗ dài 12cm, tại phần đầu cán dao nối với lưỡi dao có quấn một dây ràng màu đen.
- 01 đôi dép nhựa kích thước (25 x 9)cm màu đen trắng, loại quay kẹp, thân dép có chữ “ADIVA”, đã qua sử dụng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 2.150.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trịnh Ngọc L phạm tội “Giết người”.
Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trịnh Ngọc L 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 13/12/2017.
2. Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 591 của Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận bị cáo tự nguyện bồi thường là 100.000.000 đồng (một trăm triệu) cho bị hại Nguyễn Tấn L1. Bị hại đã nhận 27.000.000 đồng (hai mươi bảy triệu), gia đình bị cáo nộp số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu) tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Tây Ninh theo biên lai số 0008400 ngày 02 tháng 3 năm 2018. Bị cáo còn phải bồi thường là 43.000.000 đồng (bốn mươi ba triệu).
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với xe mô tô màu xanh biển số đã cũ không rõ số, số máy C50E-245286, không rõ số khung. Không có giấy tờ chứng minh ai là chủ sở hữu nên chuyển giao cho Công an tỉnh Tây Ninh xử lý theo quy định.
Tịch thu tiêu hủy hung khí dùng vào việc phạm tội và đồ vật không còn giá trị sử dụng:
- 01 con dao chặt nước đá dài 37cm, loại mũi bằng, cán kim loại tròn, đường kính 03 cm, dài 10cm, phần lưỡi dài 27cm, rộng 09 cm, dài 04,4cm, có nhiều răng cưa;
- 01 con dao dài 30cm, lưỡi kim loại dài 18cm, rộng nhất 06 cm, loại 01 cạnh sắc, trên phần lưỡi có chữ “Kiwi brand stainless stell”, phần cán gỗ dài 12 cm, tại phần đầu cán dao nối với lưỡi dao có quấn một dây ràng màu đen.
- 01 đôi dép nhựa kích thước (25 x 9)cm màu đen trắng, loại quay kẹp, thân déo có chữ “ADIVA”, đã qua sử dụng.
(Các đồ vật trên hiện Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Tây Ninh đang quản lý).
4. Về án phí: Bị cáo L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 2.150.000 đồng (hai triệu, một trăm năm mươi ngàn) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày người bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chưa thi hành số tiền trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất đối với số tiền chưa thi hành theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh./.
| Nơi nhận: - TANDCC. tại TP. HCM; - VKSNDCC. tại TP. HCM; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - Phòng CSĐT . CA tỉnh; - Trại tạm giam; - Phòng CSHTTP. CATTN; - Phòng PV 27 CATTN; - Phòng LLTP - STP; - Bộ phận THAHS. TATTN; - Cục THADS. TTN; - Vụ GĐKT I. TANDTC. tại Hà Nội; - Bị cáo; - Những người TGTT khác; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Thanh Giang |