- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phàn A H phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phàn A H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TAND HUYỆN TAM ĐƯỜNG TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 27/2018/HS-ST Ngày 29 - 11 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Vân Anh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lò Tiến Nui
Ông Lò Văn Sòi
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Thủy – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hùng Khánh - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu, Tòa án nhân dân huyện Tam Đường xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2018/HSST ngày 11 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2018/QĐXXST-HS ngày 11/9/2018 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Phàn A H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
Sinh năm: 1982; Nơi sinh: Tam Đường, Lai Châu; Nơi ĐKHKTT: Bản T, xã T, huyện Đ, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động Tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Họ và tên cha: Phàn A T (sinh năm 1956); Họ và tên mẹ: Tẩn Thị T (sinh năm: 1955); Gia đình bị can có 04 anh chị em, bị can là con thứ 02 trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị H (sinh năm 1980); Con: bị cáo có hai con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền sự: Không; Tiền án: Bị cáo có hai tiền án:
Tại bản án số 13/2012/HSSTT ngày 30/11/2012, Phàn A H bị Tòa án nhân dân huyện Tam Đường áp dụng khoản 1 Điều 194; Điều 20, Điều 53; khoản 1 Điều 46 BLHS. Xử phạt Phàn A H 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đến ngày 13/01/2017, bị TAND huyện Tam Đường áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS. Xử phạt Phàn A H 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 09/2017/HSST ngày 13/01/2017. Đến tháng 11/2017 Hàng chấp hành xong hình phạt, tính đến lần phạm tội này chưa được xóa án tích.
Ngày 28/6/2018 Phàn A H bị Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đường khởi tố về tội trộm cắp tài sản. Ngày 22/10/2018 Tòa án nhân dân huyện Tam Đường đã xét xử đối với Phàn A H về tội “Trộm cắp tài sản” và xử phạt bị cáo Phàn A H 09 (chín) tháng tù, bị cáo được khấu trừ 10 ngày tạm giữ, còn phải chấp hành 08 (tám) tháng 20 (Hai mươi) ngày tù tại bản án số 26/2018/HS-ST. Thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2018.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.
- Bị hại:
1. Ông Nguyễn Văn V, sinh năm: 1979 (có mặt)
Nơi ĐKHKTT: Bản T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lai Châu.
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1966
Địa chỉ: Bản N, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lai Châu. (Vắng mặt)
2. Bà Phạm Thị H, sinh năm 1981
Địa chỉ: Bản C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 22 giờ ngày 17/8/2018, Phàn A H đi đến trung tâm thị trấn Tam Đường chơi. Khi đến bản Hô Ta, thị trấn Tam Đường, H nhìn thấy một ngôi nhà ba tầng đang xây dựng của gia đình chị Phạm Thị H cạnh trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, hướng nhìn ra công viên cây xanh. H liền đi vào trong nhà xem, qua ánh điện chiếu sáng từ trụ sở Tòa án hắt sang H nhìn thấy có 01 sợi dây điện màu vàng dài khoảng 21m nhãn hiệu Sino loại 2x4, một đầu để trần, một đầu nối với 01 ổ cắm hình chữ nhật bằng nhựa màu trắng, nhãn hiệu Omisu, loại 03 chân, kích thước 4x10cm để từ cửa chính vào giữa nhà. Thấy ngôi nhà không có ai trông coi H nảy sinh ý định trộm cắp sợi dây điện này về bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. H cuộn sợi dây điện lại để ở phòng khách tầng 1, rồi đi theo cầu thang lên tầng 2, H thấy ở cửa nhà vệ sinh gần cầu thang có 01 (Một) máy cắt đa năng màu xanh - trắng, nhãn hiệu: MITERSAW230V và 01 (Một) máy khoan màu đỏ - đen nhãn hiệu: CROWNTOOLC1802 Hàng liền nảy sinh ý định trộm cắp mang về sử dụng (Số tài sản trên đều là của anh Nguyễn Văn V là chủ thầu xây dựng công trình nhà ở cho anh Nguyễn Vinh Q để thuận tiện cho quá trình xây dựng anh V đã để lại tại công trình). H xách hai chiếc máy trên đi xuống tầng 1 và cầm sợi dây điện màu vàng vừa cuộn lại mang về lán ruộng của mình ở bản Tề Suối Ngài, thị trấn Tam Đường, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu cất giấu. Về đến nơi H để máy cắt và máy khoan dưới gầm giường. Tiếp đó H dùng chiếc bật lửa ga màu đỏ bật lửa nhóm bếp củi trong lán cháy lên rồi cho sợi dây điện lên trên chiếc kiềng 03 chân bằng sắt trong bếp đốt cho phần vỏ dây cháy hết để lấy sợi dây đồng. Đốt xong H lấy sợi đồng ra để ở gầm giường rồi đi ngủ.
Đến khoảng 08 giờ ngày 18/8/2018 trong lúc Phàn A H đang ngủ thì cán bộ Cơ quan điều tra Công an huyện đến kiểm tra xác minh, biết việc trộm cắp của mình bị phát hiện H liền bỏ chạy ra phía ruộng thì bị lực lượng Công an bắt lại, đưa về lán ruộng nhà H lập biên bản sự việc và thu giữ vật chứng.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phàn A H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Các vấn đề khác của vụ án:
Theo kết luận định giá ngày 27/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tam Đường , kết quả định giá như sau:
- 01 (Một) máy cắt đa năng màu xanh – trắng nhãn hiệu: MITERSAW230V, mua từ tháng 11 năm 2016 với giá 5.500.000 đồng, máy cũ còn nguyên vẹn và còn giá trị sử dụng có giá trị tại thời điểm mất là 4.826.000 đồng;
- 01 (Một) máy khoan màu đỏ - đen nhãn hiệu: CROWNTOOLC1802, mua từ tháng 11 năm 2016 với giá 1.800.000 đồng, máy cũ còn nguyên vẹn và còn giá trị sử dụng có giá trị tại thời điểm mất là 1.579.000 đồng;
- 21m (Hai mươi mốt mét) dây điện màu vàng, nhãn hiệu Sino loại 2x4, mua từ tháng 5 năm 2018 với giá 357.000 đồng, giá trị tại thời điểm mất là 250.000 đồng;
- 01 (Một) ổ cắm hình chữ nhật nhãn hiệu Omisu 3 chân kích thước 4x10 cm, mua từ tháng 5 năm 2018 với giá 25.000 đồng, giá trị tại thời điểm mất là 15.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản định giá là 6.670.000 đồng (sáu triệu sáu trăm bảy mươi nghìn đồng chẵn).
Bản cáo trạng số 20/CT - VKS ngày 10/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường đã truy tố Phàn A H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận và bản cáo trạng nêu trên.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn V đã nhận lại được 01 (Một) máy cắt đa năng màu xanh – trắng nhãn hiệu: MITERSAW230V đã qua sử dụng; 01 (Một) máy khoan màu đỏ - đen nhãn hiệu: CROWNTOOLC1802 mà gia đình bị mất, còn cuộn dây điện và ổ cắm đã bị H đốt phần vỏ nhựa không sử dụng được nữa. Vì vậy, anh không yêu cầu Phàn A H phải bồi thường gì thêm.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo H từ 12 đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Đề nghị áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt của bản án số 26/2018/HSST ngày 22/10/2018 của TAND huyện Tam Đường buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án; Áp dụng khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; Về trách nhiệm dân sự bị hại anh Nguyễn Văn V không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường gì nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết; Xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy đối với 01 cuộn dây lõi đồng màu nâu dài 21m, 04 đoạn vỏ dây điện màu vàng có chiều dài lần lượt là 32cm, 25cm, 8,5cm, 16 cm và 01 bật lửa ga màu đỏ; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo H không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường.
Tại lời nói sau cùng bị cáo Phàn A H thể hiện việc nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Vào khoảng 22 giờ, ngày 17 tháng 8 năm 2018, Phàn A H vì mục đích tư lợi cá nhân đã có hành vi trộm cắp: 01 (Một) máy cắt đa năng màu xanh – trắng nhãn hiệu: MITERSAW230V đã qua sử dụng; 01 (Một) máy khoan màu đỏ - đen nhãn hiệu: CROWNTOOLC1802 đã qua sử dụng; 21m (Hai mươi mốt mét) dây điện màu vàng, nhãn hiệu Sino loại 2x4; 01 (Một) ổ cắm hình chữ nhật nhãn hiệu Omisu 3 chân kích thước 4x10 cm của anh Nguyễn Văn V. Tổng trị giá tài sản H trộm cắp của anh V là 6.670.000 đồng.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo Phàn A H là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Ý thức được điều đó nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Do đó, hành vi của bị cáo H cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo H có nhân thân xấu, ý thức chấp hành pháp luật kém thể hiện: bị cáo có 02 tiền án, trong thời gian bị cấm đi khỏi nơi cư trú vì đang bị điều tra truy tố về tội trộm cắp tài sản, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội lần này.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tuy bị cáo có hai tiền án, nhưng trước lần phạm tội này bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, giá trị tài sản trộm cắp dưới 2.000.000đồng trong thời gian chưa được xóa án tích nên tiền án trước đó đã được tính để định tội đối với bị cáo trước lần phạm tội này, vì vậy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
Xét bị cáo chưa chấp hành hình phạt tại bản án số 26/2018/HSST ngày 22/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, nên Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án này và hình phạt của bản án số 26/2018/HSST (là 09 (chín) tháng tù, bị cáo được khấu trừ 10 ngày tạm giữ, còn phải chấp hành 08 (tám) tháng 20 (Hai mươi) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2018).
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại anh Phạm Văn V không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 (Một) máy cắt đa năng màu xanh – trắng nhãn hiệu: MITERSAW230V đã qua sử dụng; 01 (Một) máy khoan màu đỏ - đen nhãn hiệu: CROWNTOOLC1802 đã được Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đường trả lại cho anh V là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với 01 cuộn dây lõi đồng màu nâu dài 21m gồm hai sợi lớn (mỗi sợi được cấu tạo bằng nhiều sợi nhỏ tết lại với nhau) ở một đầu của mỗi sợi lớn có nối với một thanh đồng (loại thanh đồng được chế tạo thành chân cắm ổ điện), 04 đoạn vỏ dây điện màu vàng có chiều dài lần lượt là 32cm, 25cm, 8,5cm, 16 cm và 01 bật lửa ga màu đỏ là vật chứng không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1, 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự
1. Tuyên bố bị cáo Phàn A H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
2. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Phàn A H 12 (Mười hai) tháng tù.
- Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp với phần hình phạt của bản án số 26/2018/HSST ngày 22/10/2018 Tòa án nhân dân huyện Tam Đường mà bị cáo H phải chấp hành là 08 (tám) tháng 20 (Hai mươi) ngày tù. Hình phạt chung của hai bản án mà bị cáo Phàn A H phải chấp hành là 20 (hai mươi) tháng 20 (hai mươi) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2018.
- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
3. Về vật chứng của vụ án:
- Tịch thu, tiêu hủy: Đối với 01 cuộn dây lõi đồng màu nâu dài 21m gồm hai sợi lớn (mỗi sợi được cấu tạo bằng nhiều sợi nhỏ tết lại với nhau) ở một đầu của mỗi sợi lớn có nối với một thanh đồng (loại thanh đồng được chế tạo thành chân cắm ổ điện), 04 đoạn vỏ dây điện màu vàng có chiều dài lần lượt là 32cm, 25cm, 8,5cm, 16 cm và 01 bật lửa ga màu đỏ.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15giờ 00 phút ngày 12/10/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Đường với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tam Đường).
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Tam Đường; - Chi Cục THADS huyện Tam Đường; - Công an huyện Tam Đường; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ toạ phiên toà (đã ký) Hoàng Thị Vân Anh |