- Tranh chấp gì? án hình sự — "Kha Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Kha Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2018/HS-ST Ngày 18 tháng 4 năm 2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Và Bá Cải
Ông Dềnh Bá Lồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Hải, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Vƣơng Quốc Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2018/TLST-HS ngày 15 tháng 03 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2018/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Kha Văn T; Tên gọi khác: không
Sinh năm 1972 tại xã M, huyện K, tỉnh N;
Nơi cư trú: bản X, xã M, huyện K, tỉnh N;
Nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: mù chữ; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kha Văn C (đã chết) và bà Kha Thị M; có vợ là Vi Thị X và 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt từ ngày 20/12/2017 đến nay, hiện đang tạm giam. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn Hùng, Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Nghệ An. Có mặt
- Người làm chứng: Ông Lương Văn T; Sinh năm 1980; Nơi cư trú: Bản H, xã K, huyện K, tỉnh N; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo bản Cáo trạng số 25/VKS-HS ngày 12/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An thì bị cáo Kha Văn T đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy và bị truy tố theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa, bị cáo Kha Văn T đã thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình với các tình tiết đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu, cụ thể là: Vào khoảng 16 giờ ngày 17/12/2017 Kha Văn T một mình đi bộ đến khu vực bản Nhọt Kho, xã Bắc Lý, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy. Khi đến nơi T gặp và mua của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết tên tuổi và địa chỉ 01 gói với số tiền 200.000 đồng, sau khi mua xong T đưa số ma túy về nhà và chia thành 04 gói nhỏ để bán số còn lại để cất dấu sử dụng. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 20/12/2017 có đối tượng Lương Văn T sinh năm 1990 trú tại bản H, xã K, huyện K, tỉnh N đến hỏi mua ma túy với Kha Văn T 01 gói với giá tiền 50.000 đồng, khi Kha Văn T đang bán ma túy cho T thì tổ công tác Công an huyện Kỳ Sơn cùng với đồn biên phòng Mỹ Lý bắt quả tang hành vi mua bán ma túy đồng thời thu giữ 04 gói chất màu trắng (nghi là heroin).
Tại biên bản mở niêm phong và xác định trọng lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vào 10 giờ 00 phút ngày 21/12/2017 đã xác định: Số chất bột màu trắng (nghi là heroin) thu giữ của Kha Văn T có trọng lượng là 0,2 gam (Không phẩy hai gam).
Tại kết luận giám định số 98/KL-PC54(MT) ngày 24/12/2017 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Chất màu trắng thu giữ của Kha Văn T gửi tới giám định là chất ma túy (heroin).
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay vẫn giữ nguyên quyết định truy tố của mình và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo Kha Văn T mức án từ 24 (Hai mươi bốn) đến 26 (Hai mươi sáu) tháng tù, đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định.
Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố đẻ đã được tặng huân chương kháng chiến để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo Kha Văn T phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được công bố, thẩm tra, xem xét tại phiên tòa nên đủ cơ sở để kết luận: Ngày 20/12/2017 Kha Văn T đã có hành vi tàng trữ 0,2 gam (Không phẩy hai gam) hêrôin nhằm mục đích mua bán. Vì vậy, hành vi đó của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội bị cáo cũng nhận thức tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và được Đảng và Nhà nước nghiêm cấm tàng trữ sử dụng nhưng vì hám lợi bị cáo đã bất chấp pháp luật mua bán trái phép nhằm thu lợi bất chính, do vậy hành vi đó cần phải được đưa ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần phải xem xét phần nào giảm nhẹ cho bị cáo vì đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình có công với cách mạng (bố đẻ đã được tặng thưởng huân chương kháng chiến) đó là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Hình phạt bổ sung: Thấy rằng bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Trong vụ án còn có đối tượng người dân tộc Mông tại bản Nhọt Kho, xã Bắc Lý, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đã bán ma túy cho Kha Văn T nhưng hiện nay chưa xác định được tên tuổi và địa chỉ cụ thể khi nào bắt được sẽ xử lý sau. Đối với Lương Văn T đã mua heroin từ Kha Văn T nhưng quá trình chuẩn bị trao đổi mua bán thì bị Công an phát hiện bắt giữ nên chưa thu được chất ma túy trên người của T vì vậy cơ quan cảnh sát điều tra đã giao đối tượng cho gia đình và chính quyền địa phương quản lý giáo dục.
Vật chứng vụ án: Số ma túy đã thu giữ của bị cáo sau khi đã trích mẫu gửi đi giám định thì còn lại là 0,1g (Không phẩy một gam) hêroin, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên phải tịch thu tiêu hủy.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên; Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999;
Tuyên bố bị cáo Kha Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Kha Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt (ngày 20/12/2017).
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy một phong bì thư bưu điện đã được niêm phong có đầy đủ chữ ký của Hội đồng tham gia niêm phong và chữ ký của đối tượng Kha Văn T và đóng dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Sơn, bên trong có chứa 0,1g (Không phẩy một gam) hêroin. Vật chứng đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 15 giờ ngày 14/03/2018.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Kha Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên bố, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/4/2018)./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Kỳ Sơn; - Công an huyện Kỳ Sơn; - THADS huyện Kỳ Sơn; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Hữu Lộc |