- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Huỳnh Giang H1 - Wen Hsin H2"
- Căn cứ chính? Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! Bản án số: 27/2018/HNGĐ-ST Ngày: 03/01/2018 |
V/v tranh chấp ly hôn.
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm"phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Cao Các"Hội"thẩm"nhân"dân: 1. Bà Nguyễn Huỳnh Bảo Khánh 2. Bà Tạ Thị Kim Tuyến -"Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thúy Hằng – Kiểm sát viên. Trong ngày 03 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 137/2016/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 4 năm 2016 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 3026/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2017, giữa các đương sự: -"Nguyên"đơn:"Bà Nguyễn Huỳnh Giang H1, sinh năm 1991 (vắng mặt) Địa chỉ: 86 đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. -"Bị"đơn:"Ông Wen Hsin H2, sinh năm 1974 (vắng mặt) Quốc tịch: Trung Quốc (Đài Loan) Địa chỉ: khu Hồ Nội, thành phố Cao Hùng, Đài Loan. Bà Nguyễn Huỳnh Giang H1 đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Trong đơn khởi kiện ngày 30/3/2016 của nguyên đơn là bà Nguyễn Huỳnh Giang H1 và các lời khai trong quá trình tố tụng, bà H1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Wen Hsin H2 tự nguyện kết hôn với nhau vào ngày 20/6/2012. Từ khi đăng ký kết hôn với ông Wen Hsin H2, bà và ông Wen Hsin H2 vẫn chưa làm lễ cưới. Thời gian này giữa hai bên thường xảy ra mâu thuẫn và từ năm 2014 đến nay hai bên không còn liên lạc gì với nhau. Đến nay bà cảm thấy nên cho mỗi người một cuộc sống mới vì vậy bà quyết định nộp đơn yêu cầu ly hôn. Do bận việc, bà yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.
Về con chung, tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà Nguyễn Huỳnh Giang H1 khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Wen Hsin H2, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã triệu tập hợp lệ: Tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo ngày, giờ và địa điểm mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án thông qua thủ tục ủy thác tư pháp đến Cơ quan có thẩm quyền của Đài Loan, theo địa chỉ của bị đơn do nguyên đơn cung cấp. Đồng thời, yêu cầu ông Wen Hsin H2 có văn bản gửi Tòa án trình bày ý kiến về việc bà Nguyễn Huỳnh Giang H1 khởi kiện yêu cầu ly hôn (theo công văn ủy thác tư pháp số 811/TTTPDS-TA ngày 02/8/2016). Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có công văn đề nghị Bộ tư pháp lãnh thổ Đài Loan thực hiện các công việc cần thiết để thực hiện ủy thác tư pháp theo quy định. Theo đó, Cơ quan có thẩm quyền của lãnh thổ Đài Loan đã gửi thông báo cho bị đơn thông qua hình thức gửi hồ sơ ủy thác tư pháp tại đồn công an vào ngày 01/11/2016. Nhưng đến nay, ông Wen Hsin H2 vẫn không có văn bản trả lời cho Tòa án.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về vụ án: Về tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về địa vị tố tụng và đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Về nội dung, Kiểm sát viên phân tích yêu cầu của nguyên đơn xin ly hôn bị đơn là phù hợp và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Xét yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Huỳnh Giang H1, Hội đồng xét xử nhận thấy bà H1 và ông Wen Hsin H2 kết hôn với nhau vào năm 2012 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vì vậy căn cứ vào Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp, khi một trong các bên có yêu cầu ly hôn, Tòa án xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Bị đơn Wen Hsin H2 mang quốc tịch Trung Quốc (Đài Loan), hiện đang cư trú tại Đài Loan nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự trong vụ án:
Nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn xin giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu cung cấp bản khai, thông báo ngày, giờ, địa điểm xét xử nhưng đến thời điểm xét xử Tòa án vẫn không nhận được phản hồi của bị đơn. Vì vậy căn cứ quy định tại Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Xét yêu cầu của bà Nguyễn Huỳnh Giang H1 yêu cầu ly hôn ông Wen Hsin H2, Hội đồng xét xử xét thấy: Qua lời trình bày của bà H1 (bà H1 cam kết chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời khai của bà) thì sau khi kết hôn bà H1 và ông Wen Hsin H2 thường xuyên xa cách nhau, thời gian hai người bên nhau rất ít, từ năm 2014 đến nay hai bên không còn liên lạc với nhau nữa và hiện nay hai người đang sinh sống ở hai nước khác nhau nên khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy bà H1 yêu cầu ly hôn với ông Wen Hsin H2 là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho bà H1 ly hôn với ông Wen Hsin H2 là phù hợp với thực tế nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với bị đơn là ông Wen Hsin H2 hiện đang định cư tại Đài Loan, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp theo quy định yêu cầu ông Wen Hsin H2 có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án về trường hợp xin ly hôn của nguyên đơn nhưng ông Wen Hsin H2 không có ý kiến phản hồi.
Về con chung, tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà Nguyễn Huỳnh Giang H1 khai không có, Tòa án không xem xét.
[4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 200.000 đồng, bà H1 chịu.
Vì"các"lẽ"trên,"
QUYẾT!ĐỊNH:!
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 121 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27 tháng 02 năm 2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án,
Xử:!
1. Về quan hệ vợ chồng: Bà Nguyễn Huỳnh Giang H1 được ly hôn với ông Wen Hsin H2.
Giấy chứng nhận kết hôn số 1831, Quyển số 10 ngày 27/6/2012 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Nguyễn Huỳnh Giang H1 và ông Wen Hsin H2 không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung, tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà Nguyễn Huỳnh Giang H1 khai không có, Tòa không xét.
3. Về án phí phí hôn nhân sơ thẩm là 200.000 đồng, bà Nguyễn Huỳnh Giang H1 chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền 200.000 đồng mà bà H1 đã đóng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006006, ngày 07/4/2016 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Huỳnh Giang H1 đã nộp đủ tiền án phí.
4. Bà Nguyễn Huỳnh Giang H1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. Ông Wen Hsin H2 được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ, Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND cấp cao tại Tp.HCM; - VKSND cấp cao tại Tp. HCM; - VKSND Tp.HCM; - Cục THADS Tp.HCM; - UBND Tp.HCM; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! ! ! ! ! ! Nguyễn!Chí!Cao |