vanban.org

Bản án 27/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng L.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Hồng L được ly hôn với anh Huỳnh Văn M. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Tuấn A (nam), sinh ngày 03/01/2015 cho chị Nguyễn Thị Hồng L tiếp tục nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hon"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH A
Tỉnh Hậu Giang

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 17 – 05 - 2018.
V/v: Xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Hường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Cho

2. Bà Nguyễn Ngọc Tải

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Á - Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Vân – Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang công khai xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 283/2017/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2017 về việc Xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng L, địa chỉ cư trú: ấp Láng H, thị trấn Rạch G, huyện C, tỉnh H. (có mặt)

2. Bị đơn: Anh Huỳnh Văn M, địa chỉ: ấp Láng H, xã Thạnh X, huyện C, tỉnh H. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào ngày 24/4/2014 chị và anh M kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh X vào ngày 10/5/2016. Sau khi kết hôn anh chị sống tại ấp Láng H, thị trấn Rạch G, huyện C, tỉnh H. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị sinh non, con phải được chăm sóc đặc biệt, anh Minh nói không có tiền lo cho hai mẹ con nên sau khi chị sinh con được ba ngày, còn nằm trong bệnh viện thì anh M đã bỏ hai mẹ con chị đi, không rõ đi đâu, cũng không nói với chị là đi đâu. Đi được hơn hai tháng thì anh M về năn nỉ quay lại sống chung, vì con chị đồng ý quay lại chung sống với anh M. Đến tháng 4/2017, anh M đi nhậu say về đóng cửa nhốt chị và con trong phòng rồi định phóng hỏa để giết chết hai mẹ con chị. Sau đó chị được cha ruột và chú ruột cứu hai mẹ con chị ra. Vì quá sợ hãi chị đã ôm con bỏ đi cho đến nay không dám quay về vì anh M nói gặp chị ở đâu sẽ giết chị ở đó, vợ chồng chị cũng sống ly thân với nhau từ đó đến nay, anh M không quan tâm chăm sóc mẹ con chị, không chu cấp tiền nuôi con và không liên lạc gì với chị. Nay nhận thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh M không hạnh phúc, cũng không thể nào hàn gắn lại được, chị cũng không mong muốn tiếp tục cuộc hôn nhân này, vì tâm trí chị lúc nào cũng sống trong lo sợ và để tránh điều đáng tiếc xảy ra, chị yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh Huỳnh Văn M.

Về con chung: Chị và anh M có 01 con chung tên Huỳnh Tuấn A (nam), sinh ngày 03/01/2015, hiện đang sống chung với chị. Nếu giải quyết ly hôn chị yêu cầu được nuôi Tuấn A và không yêu cầu anh M cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Huỳnh Văn M vắng mặt nên không có ý kiến.

Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Hồng L vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Huỳnh Văn M. Về con chung: vẫn giữ nguyên yêu cầu được nuôi cháu Huỳnh Tuấn A (nam), sinh ngày 03/01/2015 và không yêu cầu anh M cấp dưỡng. Về tài sản chung, về nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa anh Huỳnh Văn M vắng mặt nên không có ý kiến.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Về thủ tục tố tụng: Xác định việc thụ lý, hòa giải, thu thập chứng cứ cũng như thủ tục tố tụng tại phiên tòa của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định pháp luật, đảm bảo được quyền và lợi ích của đương sự.

Đối với sự có mặt của anh Huỳnh Văn M đã được Tòa án triệu hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt, không lý do đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Huỳnh Văn M.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Hồng L được ly hôn với anh Huỳnh Văn M. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Tuấn A (nam), sinh ngày 03/01/2015 cho chị Nguyễn Thị Hồng L trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án chị L không yêu cầu anh Minh cấp dưỡng, nên anh Huỳnh Văn M không phải cấp dưỡng nuôi cháu Tuấn A. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Huỳnh Văn M không ai được quyền cản trở. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí sơ thẩm: nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng L phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị Hồng L và anh Huỳnh Văn M tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào năm 2016. Quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn nên chị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Huỳnh Văn M, có địa chỉ cư trú tại ấp Láng H, xã Thạnh X, huyện C, tỉnh H. Xét đây là vụ án Xin ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, anh Huỳnh Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia hòa giải và công khai chứng cứ nhưng vẫn vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay anh M cũng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, tại biên bản xác minh tình trạng cư trú của anh M được bà Dương Thị Ch mẹ ruột anh M và Ủy ban nhân dân xã Thạnh X xác định anh Minh vẫn thường xuyên đi đi về về tại địa phương, không có bỏ địa phương đi, Tòa án đã thực hiện trình tự thủ tục tố tụng đầy đủ và đúng quy định nhưng anh Minh vẫn cố tình trốn tránh do đó để bảo đảm quyền lợi của chị L, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Huỳnh Văn M.

Về nội dung giải quyết vụ án: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng L, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Giữa chị Nguyễn Thị Hồng L và anh Huỳnh Văn M tồn tại hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định được Ủy ban nhân dân xã Thạnh X, huyện C, tỉnh H cấp giấy chứng nhận kết hôn số 29 ngày 10/5/2016 nên quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh M được xem là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống giữa chị L và anh M phát sinh mâu thuẫn, chị L cho rằng nguyên nhân là do anh M không quan tâm chăm sóc hai mẹ con chị từ khi chị sinh con đến nay, bỏ mặc hai mẹ con tại bệnh viện. Đến tháng 4/2017, anh M đi nhậu say về đóng cửa nhốt chị và con trong phòng rồi định phóng hỏa để giết chết hai mẹ con chị, quá sợ hãi chị đã ôm con bỏ đi, cũng từ đó vợ chồng sống ly thân với nhau đến nay. Từ khi chị đi đến nay, anh M không liên lạc gì với chị, không quan tâm chăm sóc hai mẹ con chị, không chu cấp tiền nuôi con. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh M không hạnh phúc, cũng không thể nào hàn gắn lại được, chị cũng không mong muốn tiếp tục cuộc hôn nhân này nên chị yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh Huỳnh Văn M.

Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã động viên, phân tích để chị L hàn gắn quan hệ vợ chồng với anh M nhưng chị L vẫn cương quyết xin ly hôn, không muốn đoàn tụ, không mong muốn chung sống cũng như hàn gắn quan hệ vợ chồng với anh Minh. Về phía anh M Tòa án đã nhiều lần triệu tập và thông báo hòa giải nhằm hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa anh M và chị L nhưng anh M không đến, cố tình trốn tránh, không xem trọng quan hệ hôn nhân giữa anh và chị L, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị L. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị L và anh M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng L là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Chị Lanh và anh M có 01 con chung tên Huỳnh Tuấn A (nam), sinh ngày 03/01/2015, hiện cháu Tuấn A đang sống chung với chị L. Chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Tuấn A và không yêu cầu anh M cấp dưỡng. Tại phiên tòa hôm nay anh M vắng mặt nên Tòa án chưa ghi nhận được nguyện vọng của anh M về yêu cầu con chung.

Xét điều kiện nuôi cháu Tuấn A của chị L, Hội đồng xét xử xét thấy: cho đến thời điểm này cháu Tuấn A mới hơn ba tuổi, còn rất nhỏ và từ tháng 4 năm 2017 đến nay, chị L và anh M sống ly thân cháu Tuấn A vẫn sống chung với chị L, được chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh M cũng không liên lạc, hay quan tâm chăm sóc con chung. Về điều kiện kinh tế chị L có ch ở, công việc và thu nhập ổn định nên đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu trưởng thành, do đó để đảm bảo điều kiện phát triển bình thường, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, không làm xáo trộn cuộc sống, ổn định cuộc sống hiện tại của cháu Tuấn A. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết giao cháu Huỳnh Tuấn A (nam), sinh ngày 03/01/2015 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Chị L không yêu cầu anh Minh cấp dưỡng nuôi con chung nên anh M không phải cấp dưỡng. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Huỳnh Văn M không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Khi nào có yêu cầu sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Khi nào có yêu cầu sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Hồng L phải chịu 300.000đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng L.

2. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Hồng L được ly hôn với anh Huỳnh Văn M.

3. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Tuấn A (nam), sinh ngày 03/01/2015 cho chị Nguyễn Thị Hồng L tiếp tục nuôi dưỡng.

4. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị Hồng L không yêu cầu anh Huỳnh Văn M cấp dưỡng nuôi con chung nên anh Minh không phải cấp dưỡng.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Huỳnh Văn M không ai được quyền cản trở.

5. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Khi nào có yêu cầu sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

6. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Khi nào có yêu cầu sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

7. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Hồng L phải chịu 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí chị L đã đóng theo biên lai thu số 0014485 ngày 20 tháng 12 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang thành án phí. Chị L đã nộp xong.

8. Chị Nguyễn Thị Hồng L được quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 17/5/2018. Anh Huỳnh Văn M được quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh X, huyện C, tỉnh H.

9. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ