- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm dân sự bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, không đề cập.
- Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 143 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2017/HSST Ngày 27 tháng 9 năm 2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN,TỈNH ĐĂKLĂK.
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hối.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Vĩnh Trung.
2. Ông Nguyễn Lam Điền.
Thƣ ký phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Lương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh – Kiểm sát viên
Trong ngày 27 tháng 9 năm 2017, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2017/HSST ngày 17 tháng 8 năm 2017 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2017/HSST-QĐ ngày 05 tháng 9 năm 2107 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Đắc T – sinh năm 1990.
Nơi sinh: Tỉnh Đắk Lắk.
Nơi ĐKNKTT: Xã K, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Chỗ ở hiện nay: Buôn E, xã K, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông: Lê Đắc T2 - Sinh năm: 1959; Con bà: Đỗ Thị P - Sinh năm: 1960; Có vợ là Lê Thị Huyền Tr
- sinh năm 1998. Con Lê Huỳnh Đ - sinh năm 2016.
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
Ngƣời bị hại: Vườn quốc gia Y.
Trụ sở: Xã K, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Tuấn L – Giám đốc vườn Quốc gia Y (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Thanh H – Chức vụ: Phó Hạt trưởng Hạt kiểm lâm vườn Quốc gia Y (có mặt).
Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Hoài N – sinh năm 1982.
Địa chỉ: Thôn A, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk(có mặt).
- Ông Nguyễn Văn H – sinh năm 1975.
Địa chỉ: Buôn J, xã K, huyện B, tỉnh Đắk Lắk( có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ 00 ngày 22 tháng 4 năm 2017, ông Trần Hoài N và ông Nguyễn Văn H là kiểm lâm viên thuộc đội kiểm lâm cơ động, hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Y, nhận lệnh điều động của lãnh đạo hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Y về việc truy tìm và xác minh xe ô tô biển kiểm soát 47 L-045.xx nghi vấn vận chuyển lâm sản trái phép đang lưu thông trên đường tỉnh lộ X, hướng từ xã K đi về thành phố B, theo tin báo của quần chúng nhân dân. Ngay sau đó, ông H điều khiển xe ô tô Biển kiểm soát 47C – xxxx chở ông N lưu thông trên đường tỉnh lộ X để truy tìm chiếc xe ô tô nghi vấn nêu trên. Khi ông H điều khiển xe lưu thông đến đoạn đường thuộc Buôn N, xã E, huyện B thì thấy xe mô tô biển kiểm soát 47S1-011.xx do Lê Đắc T điều khiển cùng chiều phía trước, do muốn vượt xe mô tô của T nên ông H đã bấm còi liên tục đồng thời theo sát chiếc xe mô tô do T điều khiển. Thấy xe ô tô phía trước bấm còi nhiều lần và ngay sát phía mình, nên T tức giận cầm đá có sẵn trên xe ném 4 hòn đá liên tiếp về phía đầu xe ô tô Biển kiểm soát 47C – xxxx do ông H điều khiển. Tuy nhiên chỉ có 01 viên trúng vào nắp ca pô và văng lên kính chắn gió làm rạn kính chắn gió phía bên trái của xe ô tô. Sau khi ném xong, T tiếp tục điều khiển xe mô tô lạng lách phía trước không cho xe ô tô vượt lên, khi đến Trung tâm huyện B, T điều khiển xe mô tô vào đường tránh và bỏ chạy. Cùng ngày, do nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên T đã tự nguyện đến Cơ quan Công an khai báo về hành vi của mình.
Vật chứng của vụ án đã tạm giữ gồm: 01 chiếc xe ô tô biển kiểm soát 47C – xxxx , nhãn hiệu ISUZU, maù sơn xanh, số máy xxxxxx, số khung S77Hxxxxxxxx; 01 xe mô tô SIRIUS màu trắng đen, biển kiểm soát 47S1 - 011.xx.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 22/4/2017 của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Buôn Đôn xác định: Hiện trường nơi xảy ra vụ án tại Km 30, tỉnh lộ X thuộc địa phận Buôn N, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Tại hiện trường phát hiện thu giữ một số cục đá có kích thước (5x8x2)cm, (5x8x2)cm, (18x2x5)cm, (3x1,5x1,5)cm, (7x5x4)cm, (20x8x8)cm.
Tại biên bản kết luận định giá tài sản số 06/KL-ĐGTS ngày 26/4/2-2017, của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Buôn Đôn kết luận: Tổng giá trị thiệt hại về ctài sản của xe ô tô biển kiểm soát 47C -xxxx là: 2.407.290đồng.
Sau khi sự việc xảy ra, đại diện hạt kiểm lâm vườn Quốc gia Y đã yêu cầu Lê Đắk T bồi thường chi phí sửa chữa và thay mới phần hư hỏng của chiếc xe ô tô là 7.000.000đồng. Lê Đắc T đã bồi thường theo yêu cầu của Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Y số tiền 7.000.000đồng(bảy triệu đồng)
Ngày 26/7/2017, cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Buôn đã ra quyết định xử lý vật chứng số 18 trả lại chiếc xe biển kiểm soát 47C – xxxx , nhãn hiệu ISUZU, mau sơn xanh, số máy xxxxxx, số khung S77Hxxxxxxxx cho vườn Quốc gia Y là phù hợp.
Ngày 11/8/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn đã ra quyết định trao trả vật chứng số 01, trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47S1 -011.xx cho bị cáo Lê Đắc T vì xe không phải dùng vào việc phạm tội.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Đắc T đã thừa nhận hành vi và tội trạng của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã nêu.
Người bị hại đã nhận đủ khoản bồi thường thiệt hại do bị cáo bồi thường, không có yêu cầu gì thêm. Về xử lý hình sự đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi liên quan: chấp nhận những lời trình bày của bị cáo là đúng sự thật, không có yêu cầu gì.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999 tuyên bố bị cáo phạm tội cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác. Đề nghị áp dụng Nghị quyết số 41 của Quốc hội khóa 14 và khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, cần áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 30 Bộ luật hình sự năm 1999 để xử lý bị cáo và phạt tiền bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, không đề cập.
Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 3 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Buôn đã ra quyết định xử lý vật chứng số 18 trả lại chiếc xe biển kiểm soát 47C – xxxx , nhãn hiệu ISUZU, mau sơn xanh, số máy xxxxxx, số khung S77Hxxxxxxxx cho vườn Quốc gia Y; chấp nhận quyết định xử lý vật chứng số 01 ngày 11/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn trả lại chiếc xe mô tô BKS 47S1-011.xx cho Lê Đắc T.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu thiêu hủy 04 cục đá Lê Đắc Tùng sử dụng để thực hiện tội phạm, có đặc điểm như trong biên bản bàn giao tang vật ngày 15/8/2017 giữa cơ quan CSĐTCA huyện Buôn Đôn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Buôn Đôn .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lê Đắc T là người đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi để biết được rằng tài sản của người khác là bất khả xâm phạm. Nhưng vào khoảng gần 9 giờ ngày 22/ 4/ 2017, khi ông Trần Hoài N và Nguyễn Văn H đang điều khiển chiếc ô tô BKS 47C- xxxx của Vườn Quốc gia Yok Đôn để truy tìm chiếc xe ô tô nghi vấn vận chuyển lâm sản trái phép trên đường tỉnh lộ X, đoạn đường thuộc buôn N, xã E. Thấy T đi mô tô phía trước, ông H đã liên tục bấm còi xe và theo sát mô tô T điều khiển. T đã bực tức dùng tay cầm đá sẵn trên xe ném liên tiếp 04 hòn đá về phía đầu xe ô tô 47C- xxxx nhưng chỉ 01 hòn trúng vào nắp ca pô văng lên kính chắn gió làm nứt kính chắn gió phía bên trái của xe. T đã làm hư hỏng chiếc xe ô tô BKS 47C- xxxx của Vườn Quốc gia Y, phía bị hại đã sửa chữa thay mới hết 7.000.000đ( bảy triệu đồng). Hành vi của bị cáo đã trực tiếp làm hư hỏng chiếc kính chắn gió của xe ô tô, đã đủ để cấu thành tội Cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác, được quy định tại khoản 1 Điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999.
Điều luật quy định: Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác gây thiệt hại từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Tuy nhiên để có lợi cho bị cáo, theo Nghị quyết số 41 của Quốc hội khóa 14 và khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, cần áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử lý bị cáo, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Điều luật quy định:
Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, tài sản là di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa hoặc tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo giam giữ đến 03 năm, hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
Cần phải xử bị cáo mức án đủ nghiêm để cải tạo giáo dục và răn đe những kẻ khác.Tuy nhiên xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tích cực khắc phục hậu quả, bồi thường toàn bộ thiệt hại, áp đụng các điểm b,g,h,p khoản 1 Điều 46 , khoản 1 Điều 30 Bộ luật hình sự năm 1999, chỉ cần áp dụng hình phạt tiền, không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội, cũng đủ để cải tạo giáo dục. Về trách nhiệm dân sự bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, không đề cập.
Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 3 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận việc cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Buôn đã ra quyết định xử lý vật chứng số 18 trả lại chiếc xe biển kiểm soát 47C – xxxx , nhãn hiệu ISUZU, mau sơn xanh, số máy xxxxxx, số khung S77Hxxxxxxxx cho vườn Quốc gia Y; chấp nhận quyết định xử lý vật chứng số 01 ngày 11/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn trả lại chiếc xe mô tô BKS 47S1-011.xx cho Lê Đắc Tùng.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu thiêu hủy một số cục đá Lê Đắc T sử dụng để thực hiện tội phạm, có đặc điểm như trong biên bản bàn giao tang vật ngày 15/8/2017 giữa cơ quan CSĐTCA huyện Buôn Đôn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Buôn Đôn .
Về án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS; nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14, bị cáo Lê Đắc T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999 tuyên bố bị cáo Lê Đắc T phạm tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác “.
Áp dụng Nghị quyết số 41 của Quốc hội khóa 14 và khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, áp dụng khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 30 Bộ luật hình sự năm 1999, phạt tiền bị cáo Lê Đắc T 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
Về trách nhiệm dân sự bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, không đề cập.
Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 3 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Buôn đã ra quyết định xử lý vật chứng số 18 trả lại chiếc xe biển kiểm soát 47C – xxxx , nhãn hiệu ISUZU, mau sơn xanh, số máy xxxxxx, số khung S77Hxxxxxxxx cho vườn Quốc gia Y; chấp nhận quyết định xử lý vật chứng số 01 ngày 11/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn trả lại chiếc xe mô tô BKS 47S1-011.xx cho Lê Đắc T.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu thiêu hủy một số cục đá Lê Đắc T sử dụng để thực hiện tội phạm, có đặc điểm như trong biên bản bàn giao tang vật ngày 15/8/2017 giữa cơ quan CSĐTCA huyện Buôn Đôn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Buôn Đôn .
Về án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14, bị cáo Lê Đắc T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Buôn Đôn.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận : - VKS huyện Buôn Đôn; - Công an huyện Buôn Đôn; - Bị cáo - Lưu hồ sơ hình sự. | TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ. (đã ký) Nguyễn Trọng Hối |