- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Minh T Trộm cắp Tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 269A/2021/HS-ST Ngày: 03/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thúc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Thủy.
Bà Trần Thị Thanh Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền Trang, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Lê Bá Tuấn, Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Huế (Địa chỉ: 60 Nguyễn Huệ, phường Vĩnh Ninh, thành phố Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 238/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 236/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Hoàng Minh T (tên gọi khác: Su), sinh ngày 23/9/1994 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: 70 đường Th, phường H, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ văn hóa: 8/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; con ông Hoàng Minh T, sinh năm 1969 và bà Trần Thị Th, sinh năm 1972; vợ: Bùi Nguyễn Thanh N, sinh năm 2001; có 01 con, sinh năm 2021.
Nhân thân: Lúc nhỏ ở với gia đình, đi học đến lớp 8 thì nghỉ học ở nhà.
- Ngày 31/5/2012, bị Công an thành phố Huế xử phạt hành chính 375.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- Ngày 29/10/2018, bị Công an thành phố Huế xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tiền sự: Không.
Tiền án: 02 tiền án.
- Ngày 16/5/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp T sản” (Bản án số 77/2018/HSST); đến ngày 28/8/2018 chấp hành xong án phạt tù.
- Ngày 07/02/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp T sản” (Bản án số 10/2020/HSST). Ngày 06/7/2020, chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/7/2021, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Lê Gia Q, sinh năm 2001; địa chỉ: 63 Thạch Hãn, phường Thuận Hòa, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Trần Thị T, sinh năm: 1972; địa chỉ: 70 đường Th, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
Ông Nguyễn C, sinh năm 1967; địa chỉ: 2/10/53 đường P, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 25/7/2021, Hoàng Minh T điều khiển xe mô tô biển số 75F9-2550 mượn của mẹ là bà Trần Thị Thúy chạy ngang qua nhà số 63 Thạch Hãn, phường Thuận Hòa, thành phố Huế thì nhìn thấy của mở, nhà không có người liền dừng xe trên vỉa hè. Sau đó, T đột nhập vào trộm cắp 01 chiếc máy tính xách tay hiệu Acer màu đen để trên giường và 01 chiếc máy tính bảng Ipad để ở phòng kế bên của anh Lê Gia Q rồi ra xe tẩu thoát. Khi tẩu thoát, T làm rơi chiếc máy tính bảng, chỉ còn máy vi tính xách tay. Sau khi lấy trộm, T nhận thấy hành vi của mình sai trái nên đem trả lại cho người bị hại.
Vật chứng thu giữ: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu DAME, màu nâu biển số 75F9-2550; 01 chiếc máy tính xách tay hiệu Acer màu đen; 01 chiếc máy tính bảng Ipad.
Kết luận định giá T sản số 174/KL-HĐĐGTS ngày 26/7/2021 của Hội đồng định giá T sản trong tố tụng hình sự thành phố Huế xác định: Tại thời điểm bị chiếm đoạt, 01 chiếc máy tính xách tay hiệu Acer màu đen trị giá 11.000.000 đồng và 01 chiếc máy tính bảng Ipad trị giá 2.500.000 đồng; tổng cộng hai khoản là 13.500.000 đồng.
Quá trình điều tra, T tự thú và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, trả lại T sản cho bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế đã trả lại toàn bộ T sản đã thu giữ cho bị hại và chủ sở hữu, không ai có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.
Tại bản Cáo trạng số 333/CT-VKS-HS ngày 30/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Hoàng Minh T về tội: “Trộm cắp T sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm theo bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Minh T phạm tội “Trộm cắp T sản”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51, điểm h Điều 52 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Minh T từ 09 tháng đến 01 năm tù. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế đã trả lại toàn bộ T sản đã thu giữ cho bị hại và chủ sở hữu hợp pháp, không ai có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không xem xét. Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo Hoàng Minh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện hợp pháp.
Tại phiên toà bị cáo Hoàng Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp khách quan với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các T liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 14 giờ ngày 25/7/2021, tại nhà số 63 Thạch Hãn, phường Thuận Hòa, thành phố Huế, Hoàng Minh T đã lén lút lấy trộm của anh Lê Gia Q 01 chiếc máy tính xách tay hiệu Acer màu đen trị giá 11.000.000 đồng và 01 chiếc máy tính bảng Ipad trị giá 2.500.000 đồng; tổng cộng là 13.500.000 đồng (mười ba triệu năm trăm nghìn đồng) nên bị cáo Hoàng Minh T đã phạm tội “Trộm cắp T sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố hành vi phạm tội của bị cáo như trên là có cơ sở, đúng quy định pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm quyền sở hữu T sản hợp pháp của công dân mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt T sản của người khác là vi phạm pháp luật. Thế nhưng do muốn hưởng lợi từ công sức lao động của người khác nên bị cáo đã phạm tội.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân xấu nhiều lần bị xử lý hành chính và xử phạt tù. Bị cáo có 02 tiền án nên lần phạm tội này bị cáo đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo trả lại T sản cho bị hại; tự thú và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích, đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Minh T từ 09 tháng đến 01 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế đã trả lại toàn bộ T sản đã thu giữ cho bị hại và chủ sở hữu hợp pháp, không ai có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Minh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Minh T 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp T sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù, kể từ ngày tạm giam 26/7/2021.
[2] Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Minh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[3] Án xử sơ thẩm công khai, thông báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - T ND T nh TT Huế - Tư pháp - VKSND thành phố Huế; - C quan C T Huế - Phòng 06 Công an t nh TT Huế; - Chi cục Thi hành án dân sự tp Huế; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có ql nv liên quan; - THA HS; - Lưu hồ s . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thúc Mỹ |