vanban.org

Bản án 269/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà MTK về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” đối với bị đơn ông NKT.

Về quan hệ hôn nhân: Bà MTK được ly hôn với ông NKT. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà MTK về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” đối với bị đơn ông NKT.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 269/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 16/12/2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Thùy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phan Thị NKT Dung.

2. Ông Nguyễn Văn Thư.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Ngô Minh Thưởng, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 124/2025/TLST-HNGĐ ngày 13/10/2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/11/2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà MTK, sinh năm: 1981, địa chỉ: Thôn T, xã N, thành phố Đ.

2. Bị đơn: Ông NKT, sinh năm: 1974, địa chỉ: Thôn T, xã N, thành phố Đ.

Ông NKT xin vắng mặt, bà MTK có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà MTK trình bày:

Bà MTK và ông NKT tự nguyện tìm hiểu đến với nhau thành vợ chồng có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã Tam Nghĩa vào năm 2001. Vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông NKT cờ bạc khiến kinh tế gia đình sa sút, vợ chồng thường xuyên cãi vả, mâu thuẫn không thể hàn gắn. Nay tình cảm vợ chồng đã hết, vợ chồng số ly thân hơn 1 năm nay, bà MTK làm đơn yêu cầu Toà án cho bà được ly hôn ông NKT.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là NKTi, sinh ngày 30/11/2003 và NKTg, sinh ngày 26/01/2011. Cháu NKTi đã thành niên không yêu cầu Toà án giải quyết. Đối với cháu NKTg yêu cầu Toà giao cho bà MTK được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, không yêu cầu ông NKT cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông NKT trình bày tại hồ sơ: Ông đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà MTK. Về con chung cháu NKTi đã lớn không yêu cầu Toà án giải quyết, cháu NKTg còn nhỏ đồng ý giao cho bà MTK trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, về cấp dưỡng vợ chồng tự thoả thuận. Nếu bà MTK không nuôi được thì ông yêu cầu được nuôi và không yêu cầu bà MTK cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ: Không yêu cầu Toà án giải quyết. Ông NKT đề nghị được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án do bận công việc.

Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà MTK được ly hôn ông NKT. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Cháu NKTi đã thành niên không yêu cầu Toà án giải quyết. Giao con chung NKTg, sinh năm: 2011 cho bà MTK trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, đương sự không yêu cầu nên không đề cập giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà MTK phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà MTK có đơn yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông NKT. Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn thì ông NKT hiện ở tại Thôn T, xã N, thành phố Đ. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 xác định đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng.

Về thủ tục tố tụng: Ông NKT là bị đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, do vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông NKT là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: bà MTK và ông NKT tự nguyện tìm hiểu đến với nhau thành vợ chồng, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã Tam Nghĩa vào năm 2001. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà MTK và ông NKT là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà MTK là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã, ông NKT có hành vi cờ bạc nợ nần gây ảnh hưởng kinh tế gia đình. Từ đầu năm 2024 đến nay vợ chồng phần ai nấy sống, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhằm hòa giải cho hai bên khắc phục mâu thuẫn quay về đoàn tụ. Ông NKT đã được tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng ông NKT không đến Toà tham gia hoà giải và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, do vậy vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được. Điều này thể hiện ý chí của ông NKT không mong muốn hoà giải khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà MTK và ông NKT đã trầm NKTg, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà MTK được ly hôn với ông NKT là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Bà MTK và ông NKT có 02 con chung tên NKTi, sinh năm: 2003 và NKTg, sinh năm: 2011. Cháu NKTi đã thành niên không yêu cầu Toà án giải quyết. Bà MTK yêu cầu được nuôi cháu NKTg, không yêu cầu giải quyết về vấn đề cấp dưỡng. Ông NKT thống nhất giao cháu NKTg cho bà MTK nuôi, nếu bà MTK không nuôi được thì ông yêu cầu được nuôi.

Hội đồng xét xử xét thấy: việc giao con cho ai nuôi phải xem xét với điều kiện thực tế và khả năng nuôi dưỡng cũng như đảm bảo sự phát triển ổn định về thể chất và tinh thần cho đứa trẻ, cần phải xem xét toàn diện mọi mặt để đưa ra phán quyết phù hợp với quy định của pháp luật cũng như đạo đức xã hội. Cháu NKTg đã trên 07 tuổi, có ý kiến muốn được ở với mẹ là bà MTK. Bà MTK cam kết đủ điều kiện về kinh tế để nuôi dưỡng cháu NKTg, không yêu cầu ông NKT cấp dưỡng nuôi con chung. Do vậy, xét giao NKTg, sinh năm: 2011 cho bà MTK trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu NKTg đủ 18 tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử đã giải thích về quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên bà MTK cam đoan bà có đủ khả năng kinh tế nuôi con và đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí hôn nhân – gia đình sơ thẩm: Bà MTK phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà MTK về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” đối với bị đơn ông NKT.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà MTK được ly hôn với ông NKT.

2. Về con chung:

- Giao con chung NKTg, sinh ngày: 26/01/2011 cho bà MTK trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi trưởng thành.

- Con chung NKTi, sinh năm: 2003 đã đủ tuổi trưởng thành, các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt vấn đề giải quyết.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không đặt vấn đề giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

4. Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà MTK phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà MTK đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003539 ngày 13/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.

6. Về quyền kháng cáo: Bà MTK có quyền kháng cáo 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; ông NKT có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ