vanban.org

Bản án 269/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc ông Nguyễn Trường C phải trả cho ông Nguyễn Văn H tổng số tiền gốc và lãi là 41.964.443 đồng; Trong đó, tiền gốc là 32.000.000 đồng; tiền lãi là 9.964.443 đồng. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người bị thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì người b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 269/2025/DS-ST
Ngày: 12/12/2025
“V/v Tranh chấp yêu cầu
thực hiện nghĩa vụ trả tiền”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Pho.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Tấn Kiệt.

2. Bà Lê Thị Bích Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhi là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 8 - tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 - tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Linh – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26 tháng 11 và ngày 12 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 264/2025/TLST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2025/QĐXXST-DS, ngày 10/11/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 90/2025/QĐST-DS, ngày 26/11/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H. Sinh năm: 1949. Nơi ĐKHKTT: Ấp Cảng, xã H, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện tại: tổ 6, ấp Kinh 1, xã V, tỉnh An Giang (Có mặt).

- Bi ̣ đơn: Ông Nguyễn Trường C. Sinh năm: 1976. Địa chỉ: Ấp Cảng, xã H, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày và yêu cầu như sau:

Trước đây ông Nguyễn Văn H có bán một phần đất cho ông Nguyễn Trường C, sau đó ông C còn nợ lại số tiền chưa trả là 60.000.000đ, do ông C không có thiện chí trả nợ nên ông H có yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết.

Tại biên bản hòa giải của ấp Cảng, xã H, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp Cảng, xã H, tỉnh An Giang) vào ngày 12/7/2022, ông C thừa nhận nợ ông H số tiền 60.000.000đ, hứa mỗi tháng trả 7.000.000đ, ngày bắt đầu trả 30/7/2022, trả được 04 tháng đến ngày 30/10/2022 được số tiền 28.000.000đ nên còn nợ lại 32.000.000đ đến nay không trả.

Vì vậy ông H khởi kiện yêu cầu ông C trả số nợ 32.000.000đ và yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày 01/11/2022 cho đến khi trả hết nợ.

* Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định cho bị đơn Nguyễn Trường C, nhưng ông C không đến Tòa để làm việc và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về vụ kiện của nguyên đơn. Vì vậy Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản xác minh ông Nguyễn Văn Mạnh trình bày:

Ông Mạnh là trưởng ấp Cảng, xã H. Sự việc tranh chấp tiền giữa ông H với ông C thì ban lãnh đạo ấp Cảng, xã H có lập biên bản tiến hành hòa giải vào ngày 12/7/2022. Tại buổi hòa giải ông C thừa nhận còn nợ ông H số tiền 60.000.000đ, cam kết trả mỗi tháng 7.000.000đ kể từ ngày 30/7/2022 cho đến khi hết nợ. Sau khi thống nhất số nợ và thời gian trả thì hai bên cùng với đại diện ban lãnh đạo ấp ký xác nhận vào biên bản. Ông Mạnh cho biết ông C có nhà đất tại ấp Cảng. Được biết ông C về Hà Tiên sinh sống nhưng vẫn tới lui trông coi nhà đất tại ấp Cảng, xã H.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên vụ án còn để quá thời hạn chuẩn bị xét xử cần rút kinh nghiệm trong thời gian tới. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định. Nguyên đơn thuộc trường hợp được miễn án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bị đơn ông Nguyễn Trường C có nơi cư trú tại: Ấp Cảng, xã H, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang (này là Ấp Cảng, xã H, tỉnh An Giang). Căn cứ khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh An Giang. Đây là vụ án “Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền” quy định tại khoản 2 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án tiến hành tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn ông Nguyễn Trường C vắng mặt 02 lần không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ kiện: Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả số tiền gốc còn nợ 32.000.000đ là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ: Tại biên bản hòa giải của ấp Cảng, xã H ông C thừa nhận còn nợ ông H số tiền 60.000.000đ, cam kết trả mỗi tháng 7.000.000đ cho đến khi hết nợ nhưng chỉ trả được 04 tháng với số tiền 28.000.000đ nên còn nợ lại 32.000.000đ cho đến nay không trả như cam kết. Sự việc hòa giải nêu trên có sự xác nhận của ban lãnh đạo ấp Cảng, xã H.

Bị đơn chỉ trả nợ đến ngày 30/10/2022, sau đó không trả nữa nên vi phạm cam kết, vì vậy Đối nguyên đơn yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày 01/11/2022 trên số tiền còn nợ là phù hợp. Do bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền nên phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Các bên không có thỏa thuận về việc trả lãi nên lãi suất chậm trả được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, cụ thể lãi suất được tính như sau:

Từ ngày 01/11/2022 đến ngày xét xử 12/12/2025 là 37 tháng 11 ngày x 32.000.000đ x 10%/năm : 12 = 9.964.443đ.

Như vậy tổng số tiền gốc và lãi buộc ông C phải trả cho ông H là 32.000.000đ + 9.964.443đ = 41.964.443đ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do ông C bị buộc trả nợ nên phải chịu án phí trên số tiền phải trả. Ông H thuộc trường hợp được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự;

- Các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Buộc ông Nguyễn Trường C phải trả cho ông Nguyễn Văn H tổng số tiền gốc và lãi là 41.964.443 đồng; Trong đó, tiền gốc là 32.000.000 đồng; tiền lãi là 9.964.443 đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người bị thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì người bị thi hành án còn phải chịu thêm một khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự quy định tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc ông C phải chịu số tiền án phí là 2.098.222 đồng.

- Ông H thuộc trường hợp được miễn án phí.

3. Quyền kháng cáo: Ông H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a, b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ