vanban.org

Bản án 269/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 29/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "gây rối trặt tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC Nghị quyết hướng dẫn áp d…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 269/2023/HS-ST
Ngày 29-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Vũ Phước Thành

Các Hội thẩm nhân dân:

1.

Bà Nguyễn Thị Thắm;

2.

Bà Nguyễn Kim Lý.

- T4 ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 250/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 226/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Mai Thành Đ, sinh năm 1994, tại tỉnh C; hộ khẩu: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh C; chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Thợ xăm; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn L2 (đã chết) và bà Hoa Thị L3.

Nhân thân:

- Ngày 29/9/2011, bị cáo Mai Thành Đ bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 06 năm tù về tội: “Cướp tài sản” đối với hành vi thực hiện vào tháng 7/2010. Bị can chấp hành hình phạt tại Trại giam Xuân Lộc đến ngày 25/01/2016 thì chấp hành xong, đã chấp hành xong phần án phí.

- Ngày 29/11/2019, bị cáo Mai Thành Đ bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với hành vi thực hiện ngày 25/8/2019. Bị cáo chấp hành hình phạt tại Trại giam An Phước đến ngày 26/8/2020 thì chấp hành xong, đã chấp hành xong phần án phí.

- Ngày 11/5/2021, bị cáo Mai Thành Đ bị Ủy ban nhân dân xã Lai Hưng, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng đối với hành vi sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép. Đ đã chấp hành đóng phạt ngày 25/5/2021.

Tiền án: Không; tiền sự: Không.

Ngày 02/9/2023, bị can Mai Thành Đ bị bắt truy nã, bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Mai Nhật T, sinh ngày 09/5/2003, tại tỉnh C; hộ khẩu: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh C; chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Thợ xăm; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn L2 (đã chết) và bà Hoa Thị L3.

Nhân thân: Ngày 11/5/2021, bị cáo Mai Nhật T bị Ủy ban nhân dân xã Lai Hưng, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng đối với hành vi sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép. T đã chấp hành đóng phạt ngày 25/5/2021.

Tiền án: Không, tiền sự: Không.

Ngày 13/3/2023, bị cáo Mai Nhật T bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3.

Lý Hồng Thạnh Q, sinh năm 1984, tại tỉnh Đ; hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đ, chỗ ở: Khu phố 3, phường M, thị xã B, tỉnh B; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Hồng N2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Bửu H2; có vợ tên Trần Thị Cẩm N3, có 01 con sinh năm 2011.

Nhân thân: Ngày 19/9/2019, Lý Hồng Thạnh Q bị Công an huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp xử phạt hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh bạc. Q đã chấp hành đóng phạt ngày 07/10/2019.

Tiền án: Không; tiền sự: Không. Ngày 15/3/2023, bị cáo Lý Hồng Thạnh Q bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4.

Võ Trọng N, sinh năm 1998, tại tỉnh B; hộ khẩu Thường trú: Khu phố 4, phường T, thị xã B, tỉnh B; chỗ ở: Khu phố 4, phường T, thị xã B, tỉnh B; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Thành T4 và bà Lê Thị L4; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Ngày 28/02/2023, bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

5. Nguyễn Hoàng T, sinh năm 2000, tại tỉnh B; hộ khẩu Thường trú: Khu phố 4, phường T, thị xã B, tỉnh B; chỗ ở: Khu phố 4, phường T, thị xã B, tỉnh B; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T5 và bà Nguyễn Thị Thu T6, có vợ là Nguyễn Minh H7; tiền án: Không; tiền sự: Không. Ngày 28/02/2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

6. Nguyễn Trung H, sinh năm 2000, tại tỉnh B; hộ khẩu Thường trú: Ấp Đ, xã T, huyện D, tỉnh B, chỗ ở: Nhà trọ H, đường DJ6, tổ 15A, khu phố 3B, phường T, thị xã B, tỉnh B; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P1 và bà Lê Thị Thanh H3; tiền án: Không; tiền sự: Không. Ngày 28/02/2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

7. Võ Hoàng L, sinh năm 1995, tại K; hộ khẩu Thường trú: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh K, chỗ ở: Khu nhà ở công nhân s, B, khu nhà trọ C, đừng N12, tổ 29, khu phố 6, phường T, thị xã B, tỉnh B; nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Hoàng L5 (đã chết) và bà Lâm Thị Lệ X; tiền án: Không; tiền sự: Không. Ngày 28/02/2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

8. Ninh Thành L, sinh năm 2002, tại tỉnh B; hộ khẩu Thường trú: Khu phố 6, phường P, thành phố T, tỉnh B; chỗ ở: Nhà trọ T, đường NL4, tổ 4, khu phố 4, phường T, thị xã B, tỉnh B; nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ninh Văn T7 và bà Trần Thị H4; tiền án: Không; tiền sự: Không. Ngày 28/02/2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

9. Nguyễn Minh T2, sinh năm 1990, tại tỉnh T; hộ khẩu Thường trú: Khu phố 2, phường T, thành phố T, tỉnh B; chỗ ở: Khu phố 2, phường T, thành phố T, tỉnh B; nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Tuyết N4; tiền án: Không; tiền sự: Không. Ngày 28/02/2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

10. Nguyễn Hoài A, sinh năm 1996, tại tỉnh B; hộ khẩu Thường trú: Khu phố 5, phường M, thị xã B, tỉnh B, chỗ ở: Khu phố 5, phường M, thị xã B, tỉnh B; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H5; có vợ tên Trần Lệ V, có 03 con lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án: Không; tiền sự: Không. Ngày 28/02/2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

11. Nguyễn Đức T3, sinh năm 1996, tại tỉnh Đồng N; hộ khẩu Thường trú: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đ, chỗ ở: Số 04, đường T, Phường 13, Quận 3, Thành phố H; nghề nghiệp: Nhân viên văn phòng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H6 và bà Nguyễn Thị Mỹ T8; tiền án: Không; tiền sự: Không. Ngày 28/02/2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

12. Nguyễn Thị Thanh T4, sinh năm 2002, tại tỉnh B; hộ khẩu Thường trú: Ấp Minh T, xã T, huyện Đ, Tỉnh B, chỗ ở: Khu phố 5, phường P, thành phố T, tỉnh B; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Việt D2 và bà Nguyễn Thị T9; tiền án: Không; tiền sự: Không. Ngày 28/02/2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Bùi Phan Minh T5, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn B, xã H, thị xã Đ, tỉnh P. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Hoa Thị L3; địa chỉ: Nhà trọ N, khu phố 5, phường M, thị xã B, tỉnh B.

- Người làm chứng:

1. Lê Tú H1 (vắng mặt)

2. Nguyễn Quang Đ2 (vắng mặt)

3. Lưu Nhuận Đ3 (vắng mặt)

4.Phạm Văn D (vắng mặt)

5. Lai Lường P (vắng mặt)

6. Nguyễn Thị Ngọc M (vắng mặt)

7. Nguyễn Văn H8 (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Mai Thành Đ và Mai Nhật T là hai anh em ruột với nhau. Nguyễn Đức T3, Nguyễn Thị Thanh T4, Nguyễn Hoài A, Lê Tú H1, Nguyễn Quang Đ2, Lưu Nhuận Đ3, Phạm Văn Dương, Lai Lường Phu, Nguyễn Thị Ngọc My và Nguyễn Văn Hận là bạn của Mai Thành Đ.

Khoảng 21 giờ ngày 20/10/2022, Mai Thành Đ, T, T3, T4, Hoài A, Hòa, Quang Đ2, Đ3, D, P, M, H8 cùng nhau đến quán bar Win Club, cạnh đường NE8, thuộc khu phố 3B, phường T, thị xã B, tỉnh B do ông Bùi Phan Minh T5 làm chủ, để uống bia và nghe nhạc. Tại đây, nhóm của Mai Thành Đ ngồi 02 bàn Vip 14 và Vip 15. Cạnh bên là bàn Vip 16 do nhóm của Lý Hồng Thạnh Q và khoảng 05 người bạn của Q cũng đang ngồi uống bia. Lúc này, trong quán có Võ Hoàng L, Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Trung H, Ninh Thành L, Võ Trọng N là nhân viên đang làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự quán bar Win Club.

Khoảng 23 giờ cùng ngày, nhóm của Mai Thành Đ đang cùng nhau chụp ảnh tại bàn Vip 14, Vip 15 thì Lý Hồng Thạnh Q đi ngang qua. Cho rằng Q gây cản trở việc chụp ảnh nên một số người trong nhóm của Mai Thành Đ chửi Q dẫn đến cãi vã, nhưng được mọi người can ngăn, nên Q đi về bàn Vip 16 tiếp tục ngồi uống bia với bạn. Khoảng 05 phút sau, Q bị 01 người (không rõ lai lịch) trong nhóm của Mai Thành Đ đến dùng ly uống bia đánh vào vùng đầu 01 cái thì Q đứng dậy dùng tay đánh lại người này. Lúc này, nhóm bạn của Q đứng dậy can ngăn thì bị nhóm của Mai Thành Đ qua cự cãi và chuẩn bị đánh nhau nên nhóm nhân viên bảo vệ quán là Hoàng L, T, T2, H, Thành L và N đến can ngăn yêu cầu tất cả đi ra ngoài. Trong lúc nhóm nhân viên bảo vệ can ngăn và đưa nhóm của Mai Thành Đ và nhóm của Q đi ra ngoài quán, thì nhóm của Mai Thành Đ cho rằng nhóm nhân viên bảo vệ bênh vực Q nên xảy ra mâu thuẫn cãi vã.

Khi đi ra phía trước khu vực quán bar Win Club, nhóm của Mai Thành Đ tiếp tục cãi nhau với nhóm nhân viên bảo vệ. Lúc này, Mai Thành Đ đang đứng ở lề đường NE8 chạy vào dùng tay, chân đánh nhau với nhóm nhân viên bảo vệ thì bị Hoàng L, T, T2, H, Thành L và N dùng cây tầm vong, tay chân đánh lại. Mai Thành Đ giật được 01 cây tầm vong trên tay của một người bên nhóm nhân viên bảo vệ rồi chạy lùi ra lề đường. Sau đó, Mai Thành Đ cầm cây tầm vong, T cũng nhặt được một cây tầm vong gần đó cầm trên tay và một số người không rõ trong nhóm Mai Thành Đ cùng chạy trở vào đánh nhóm nhân viên bảo vệ. Thấy vậy, N, T nhặt mỗi người một cây tầm vong ở góc quán, H nhặt 01 khung gỗ kiểu kệ patlet; Hoàng L, Thành L, T2 cầm ly thủy tinh và một số đối tượng khác (không rõ lai lịch) dùng gậy bóng chày, chạy ra đánh, chọi lại nhóm của Mai Thành Đ. Lúc này, có 01 người mặc áo trắng (không rõ lai lịch) đưa cho Q một cây gậy đánh bóng chày thì Q cầm chạy ra đánh nhóm Mai Thành Đ nhưng không rõ trúng vào người nào. T3 và T4 đang đứng bên ngoài lề đường NE8, do bực tức nhóm nhân viên bảo vệ, T3 cầm 01 nón bảo hiểm của mình chạy vào ném nón bảo hiểm về phía nhóm nhân viên bảo vệ rồi lùi ra đứng cạnh T4. Lúc này, T4 lấy 01 nón bảo hiểm trên xe mô tô cạnh đó đưa cho T3, để T3 tiếp tục ném về phía nhóm nhân viên bảo vệ, còn T4 nhặt 01 cái ly thủy tinh cầm ném về phía nhóm nhân viên bảo vệ. Thấy nhóm của Mai Thành Đ hung hãn nên nhóm nhân viên bảo vệ chạy vào bên trong quán khép cửa chính bằng kính cường lực lại thì bị nhóm Mai Thành Đ đuổi theo, T cầm cục gạch nhặt được, chạy vào chọi vào cửa kính của quán Winclub, rồi nhảy lên đạp vào cửa kính bên phải của quán 02 lần làm vỡ 01 tấm cửa kính cường lực, loại tiêu âm 12 ly, kích T4ớc 120cm x 240 cm, rồi cùng cả nhóm ra về. Khi Mai Thành Đ ra lấy xe mô tô điều khiển chạy được khoảng 05m thì bị một số người không rõ lai lịch chạy ra kéo lại làm Mai Thành Đ và xe mô tô bị ngã trên đường NE8, Mai Thành Đ bị những người này dùng cây tầm vông, gậy bóng chày, tay, chân đánh. Lúc này, Hoài A nhặt cầm 01 gậy bóng chày, T cầm gậy tầm vong cùng một số người không rõ trong nhóm của Thành Đ chạy đến đánh những người đang đánh Thành Đ bỏ chạy vào phía trong quán, rồi nhóm của Thành Đ đi về.

Riêng Lê Tú H1, Nguyễn Quang Đ2, Lưu Nhuận Đ3, Phạm Văn D, Lai Lường P, Nguyễn Thị Ngọc M và Nguyễn Văn H8 không tham gia đánh nhau.

Nhận tin báo của quần chúng nhân dân, lượng Công an phường Thới Hòa đến hiện trường, tiến hành kiểm tra xác minh. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình điều tra xác định, tài sản của quán bar Winclub bị thiệt hại gồm: 01 cửa kính cường lực, loại tiêu âm 12 ly, kích T4ớc 120cm x 240cm; 03 tấm kính trang trí kích T4ớc 20cm x 60cm, 02 dĩa tròn pha lê, 20 cái ly thủy tinh và 03 bình Shisha đã qua sử dụng.

Vật chứng thu giữ: 07 gậy bóng chày bằng kim loại màu trắng, phần tay cầm màu đen, bên trên có chữ “BAT”; 01 USB chứa nội dung video vụ án.

Theo Kết luận định giá tài sản số 146 ngày 05/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Bến Cát, kết luận: Chi phí thay thế, mua sắm mới 01 cửa kính cường lực, loại tiêu âm 12 ly, kích T4ớc 120cm x 240cm là 7.410.000 đồng; Chi phí mua sắm mới 03 tấm kính trang trí kích T4ớc 20cm x 60cm là 1.560.000 đồng; Chi phí mua sắm mới 02 dĩa tròn pha lê là 460.000 đồng; Chi phí mua sắm mới 20 ly thủy tinh là 680.000 đồng; 03 bình Shisha đã qua sử dụng là 600.000 đồng.

Ngày 03 tháng 02 năm 2023, Ủy ban nhân dân phường Thới Hòa đã có Văn bản số 24 về việc đề nghị xử lý hình sự các đối tượng đã thực hiện hành vi “Gây rối trật tự công cộng” tại quán bar Win Club vào ngày 20/10/2022, do hành vi của các đối tượng đã tạo T2 lý hoang mang, bức xúc cho người dân trên địa bàn.

Trong lúc xảy ra xô xát, đánh nhau, Mai Thành Đ, Lý Hồng Thạnh Q, Mai Nhật T, Võ Hoàng L, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Hoàng T bị thương tích. T, L, T2 và T bị xây xát nhẹ nên từ chối giám định, không yêu cầu xử lý.

Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 129/2023/GĐPY ngày 06/3/2023, số 584/2023/GĐPY ngày 09/10/2023 của Trung Tâm Pháp y tỉnh Bình Dương, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của Lý Hồng Thạnh Q là 00%, của Mai Thành Đ là 10%, theo Bảng tỷ lệ tổn Thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT do Bộ Y Tế ban hành ngày 28/8/2019.

Ngày 23/10/2023, Mai Thành Đ có đơn rút yêu cầu khởi tố về việc bị cố ý gây thương tích.

Tại Cơ quan điều tra, Mai Thành Đ, Mai Nhật T, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Thị Thanh T4, Nguyễn Hoài A, Võ Hoàng L, Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Trung H, Ninh Thành L, Võ Trọng N và Lý Hồng Thạnh Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.

* Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 15/9/2023, Võ Hoàng L, Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Trung H, Ninh Thành L, Võ Trọng N đã thỏa thuận bồi Thường cho ông Bùi Trương Minh T5 số tiền 3.300.000 đồng là giá trị các tài sản bị thiệt hại bao gồm 03 tấm kính trang trí kích T4ớc 20cm x 60cm, 02 dĩa tròn pha lê, 20 cái ly thủy tinh và 03 bình Shisha theo kết luận của hội đồng định giá.

Bà Hoa Thị L3 (mẹ của các bị cáo Mai Thành Đ và Mai Nhật T) đã bồi Thường cho ông Bùi Trương Minh T5 số tiền 6.000.000 đồng. Ông Toàn có ý kiến tự nguyện không yêu cầu bồi thường số tiền còn lại là 1.410.000 đồng đối với bị cáo Mai Nhật T. Đồng thời, ông T5 cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho tất cả các bị cáo trong vụ án này.

Tại Cáo trạng số 267/CT-VKSBC ngày 27/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát đã:

- Truy tố các bị cáo Mai Thành Đ, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Thị Thanh T4, Nguyễn Hoài A, Nguyễn Hoàng T, Võ Trọng N, Nguyễn Trung H, Võ Hoàng L, Ninh Thành L, Nguyễn Minh T2, Lý Hồng Thạnh Q về tội: “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Truy tố bị cáo Mai Nhật T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 và tội: “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị HĐXX:

+ Về tội danh: Đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Mai Thành Đ, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Thị Thanh T4, Nguyễn Hoài A, Nguyễn Hoàng T, Võ Trọng N, Nguyễn Trung H, Võ Hoàng L, Ninh Thành L, Nguyễn Minh T2, Lý Hồng Thạnh Q về tội: “Gây rối trật tự công cộng”. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Mai Nhật T về tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Hủy hoại tài sản”.

Đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Mai Thành Đ.

Đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo: Lý Hồng Thạnh Q.

Đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo: Nguyễn Đức T3, Nguyễn Thị Thanh T4, Nguyễn Hoài A, Nguyễn Hoàng T, Võ Trọng N, Nguyễn Trung H, Võ Hoàng L, Ninh Thành L, Nguyễn Minh T2.

Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Mai Nhật T.

+ Về hình phạt, đề nghị HĐXX:

Xử phạt bị cáo Mai Thành Đ mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Xử phạt bị cáo Mai Nhật T mức án từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội: “Gây rối trật tự công cộng” và mức án từ 08 tháng đến 10 tháng tù về tội: “Hủy hoại tài sản”. Đề nghị áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để tổng hợp hình phạt của hai tội đối với bị cáo Mai Nhật T.

Xử phạt bị cáo Lý Hồng Thạnh Q mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T3 mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T4 mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài A mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.

Xử phạt bị cáo Võ Trọng N mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.

Xử phạt bị cáo Võ Hoàng L mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.

Xử phạt bị cáo Ninh Thành L mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T2 mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.

+ Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy 07 gậy bóng chày bằng kim loại màu trắng, phần tay cầm màu đen, bên trên có chữ “BAT”.

+ Về trách nhiệm dân sự: Bà Hoa Thị L3 (mẹ của các bị cáo Mai Thành Đ và Mai Nhật T) đã bồi thường cho ông Bùi Trương Minh T5 số tiền 6.000.000 đồng. Ông T5 có ý kiến tự nguyện không yêu cầu bồi Thường số tiền còn lại là 1.410.000 đồng đối với bị cáo Mai Nhật T, nên không đề nghị giải quyết.

Người có quyền lợi, N vụ liên quan bà Hoa Thị L3 trình bày: Bà không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Mai Thành Đ, Mai Nhật T.

* Các bị cáo tranh luận: Các bị cáo tại phiên tòa đều thống nhất với nội dung bản Cáo trạng truy tố, không tranh luận về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Đều thống nhất xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo đều ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên:

Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện:

Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, cụ thể như sau:

Trong khoảng thời gian từ 23 giờ 30 phút đến 23 giờ 45 phút ngày 20/10/2022, tại quán bar Winclub do ông Bùi Phan Minh T5 làm chủ, địa chỉ cạnh đường NE8, thuộc khu phố 3, phường T, thị xã B, tỉnh B xảy ra vụ án gây rối trật tự công cộng, cụ thể: Do nhóm của Mai Thành Đ, trong đó có Đ, Mai Nhật T, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Thị Thanh T4, Nguyễn Hoài A và một số người khác ngồi bàn Vip 14, 15 có mâu thuẫn, cự cãi, chuẩn bị xô xát với Lý Hồng Thạnh Q ngồi bàn Vip 16 cùng nhóm bạn, nên nhóm nhân viên bảo vệ quán gồm Võ Hoàng L, Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Trung H, Ninh Thành L, Võ Trọng N đã can ngăn và yêu cầu tất cả đi ra ngoài quán. Khi ra đến phía trước quán, nhóm của Mai Thành Đ đã xô xát, đuổi đánh nhau với nhóm nhân viên bảo vệ và nhóm của Lý Hồng Thạnh Q, cụ thể: Mai Thành Đ, T cầm cây tầm vong, Hoài A cầm gậy bóng chày để đánh; T3 cầm nón bảo hiểm, T4 cầm ly thủy tinh ném; N, T cầm cây tầm vong, H cầm khung gỗ, Hoàng L, Thành L, T2 cầm ly thủy tinh đánh, chọi; còn Q cầm gậy bóng chày đánh nhóm của Mai Thành Đ. Ngoài ra, Mai Nhật T còn có hành vi dùng gạch chọi và dùng chân đạp làm vỡ 01 tấm kính cường lực trị giá 7.410.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho những người xung quanh. Các bị cáo đều có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát truy tố các bị cáo: Mai Thành Đ, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Thị Thanh T4, Nguyễn Hoài A, Nguyễn Hoàng T, Võ Trọng N, Nguyễn Trung H, Võ Hoàng L, Ninh Thành L, Nguyễn Minh T2 và Lý Hồng Thạnh Q về tội: “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và truy tố bị cáo Mai Nhật T về tội: “Gây rối trật tự công cộng” và “Hủy hoại tài sản” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 và khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Tất cả các bị cáo đều đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý lo lắng cho người dân. Các bị cáo nhận thức được hành vi gây rối trật tự công cộng là sai trái nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hội đồng xét xử cần xử các bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Vai trò của các bị cáo:

Xét các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn. Các bị cáo là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Trong đó, các bị cáo Đ, T, Q có vai trò tích cực nhất. Các bị cáo còn lại có vai trò ngang nhau khi thực hiện hành vi. Do vậy, HĐXX sẽ cân nhắc vai trò của từng bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tất cả các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tất cả các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo Mai Nhật T đã tích cực tác động gia đình bồi Thường thiệt hại cho bị hại là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bị cáo Nguyễn Đức T3 có cha (tên Nguyễn Văn H6) được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang vì đã có thành tích phục vụ trong quân đội nhân dân Việt Nam. Bị cáo Nguyễn Hoàng T có bà nội (tên Nguyễn Thị B) được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng nhất trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bị cáo Nguyễn Thị Minh T4 có ông nội (tên Nguyễn Ngọc T10) là Liệt sĩ hy sinh tại chiến trường Campuchia vào năm 1986. Bị cáo Võ Trọng N được UBND phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tặng “Giấy khen” về thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2020 khi tham gia lực lượng dân quân Khu phố 4. Các bị cáo: Lý Hồng Thanh Q, Nguyễn Hoài A, Nguyễn Hoàng T, Võ Trọng N, Nguyễn Trung H, Võ Hoàng L, Ninh Thành L, Nguyễn Minh T2 đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Mai Nhật T. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét các bị cáo Nguyễn Đức T3, Nguyễn Thị Thanh T4, Nguyễn Hoài A, Nguyễn Hoàng T, Võ Trọng N, Nguyễn Trung H, Võ Hoàng L, Ninh Thành L và Nguyễn Minh T2 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy, không cần phải bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù, các bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, xét lời đề nghị cho bị cáo Nguyễn Đức T3, Nguyễn Thị Thanh T4, Nguyễn Hoài A, Nguyễn Hoàng T, Võ Trọng N, Nguyễn Trung H, Võ Hoàng L, Ninh Thành L và Nguyễn Minh T2 được hưởng án treo của vị đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.

Đối với bị cáo Mai Thành Đ, Mai Nhật T và Lý Hồng Thạnh Q: Xét hành vi các bị cáo là nguy hiểm, thực hiện hành vi tích cực nhất, có nhân thân nên cần bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù mới đủ sức giáo dục, răn đe, cải tạo các bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội.

Đối với hành vi các bị cáo gây thiệt hại về tài sản của quán bar Winclub là 03 tấm kính trang trí kích T4ớc 20cm x 60cm, 02 dĩa tròn pha lê, 20 cái ly thủy tinh và 03 bình Shisha, tổng trị giá 3.300.000 đồng, do các bị cáo không có mục đích gây thiệt hại về tài sản, không có đồng phạm đối với hành vi này, không xác định được giá trị thiệt hại của từng bị cáo gây ra, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” là có căn cứ.

Đối với hành vi cố ý gây thương tích cho Mai Thành Đ, do tỷ lệ tổn Thương cơ thể do thương tích gây nên là 10%, Đ xin rút yêu cầu khởi tố và không xác định đối tượng thực hiện hành vi, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát không khởi tố là phù hợp. Tại phiên tòa, Đ giữ nguyên ý kiến rút yêu cầu khởi tố và không đề nghị xem xét hành vi gây thương tích cho Đ.

Xét các đối tượng Lê Tú H1, Nguyễn Quang Đ2, Lưu Nhuận Đ3, Phạm Văn D, Lai Lường P, Nguyễn Thị Ngọc M và Nguyễn Văn H8 không tham gia đánh nhau, nên không bị xử lý hình sự là phù hợp.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Cần phải tịch thu tiêu hủy đối với: 07 gậy bóng chày bằng kim loại màu trắng, phần tay cầm màu đen, bên trên có chữ “BAT”.

Về trách nhiệm dân sự:

Mẹ của bị cáo Mai Nhật T đã bồi Thường chi phí thay thế, mua sắm mới 01 cửa kính cường lực, loại tiêu âm 12 ly, kích T4ớc 120cm x 240cm cho ông Bùi Phan Minh Toàn với số tiền 6.000.000 đồng. Đối với 1.410.000 đồng còn lại thì ông Toàn tự nguyện không yêu cầu, nên HĐXX không đề cập xem xét.

Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, hình phạt, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp đối với các bị cáo là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Riêng mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo Mai Nhật T về tội: “Hủy hoại tài sản” là có phần nghiêm khắc, nên HĐXX xử phạt bị cáo dưới mức hình phạt được đề nghị.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo bị kết án, nên phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Mai Thành Đ;

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lý Hồng Thạnh Q;

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; khoản 1 Điều 178, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Mai Nhật T.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo: Nguyễn Đức T3, Nguyễn Thị Thanh T4, Nguyễn Hoài A, Nguyễn Hoàng T, Võ Trọng N, Nguyễn Trung H, Võ Hoàng L, Ninh Thành L và Nguyễn Minh T2;

- Căn cứ Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo đối với các bị cáo: Nguyễn Đức T3, Nguyễn Thị Thanh T4, Nguyễn Hoài A, Nguyễn Hoàng T, Võ Trọng N, Nguyễn Trung H, Võ Hoàng L, Ninh Thành L và Nguyễn Minh T2;

- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với tất cả các bị cáo.

1. Về tội danh:

- Tuyên bố các bị cáo Mai Thành Đ, Lý Hồng Thạnh Q, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Thị Thanh T4, Nguyễn Hoài A, Nguyễn Hoàng T, Võ Trọng N, Nguyễn Trung H, Võ Hoàng L, Ninh Thành L và Nguyễn Minh T2 phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.

- Tuyên bố bị cáo Mai Nhật T phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng” và tội: “Hủy hoại tài sản”.

2. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Mai Thành Đ 03 (ba) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 02/9/2023.

- Xử phạt bị cáo Mai Nhật T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng” và 06 (sáu) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Mai Nhật T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 03 (ba) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 13/3/2023.

- Xử phạt bị cáo Lý Hồng Thạnh Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2023.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T3 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/12/2023).

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T4 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/12/2023).

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài A 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/12/2023).

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/12/2023).

- Xử phạt bị cáo Võ Trọng N 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/12/2023).

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/12/2023).

- Xử phạt bị cáo Võ Hoàng L 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/12/2023).

- Xử phạt bị cáo Ninh Thành L 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/12/2023).

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T2 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/12/2023).

Giao các bị cáo Võ Trọng N, Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Trung H, Võ Hoàng L và Ninh Thành L cho Ủy ban nhân dân phường T, thị xã B, tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Minh T2 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Hoài A cho Ủy ban nhân dân phường M, thị xã B, tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Đức T3 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Đ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Thanh T4 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi được giao để giám sát phải thông báo cho Cơ quan Thi hành án hình sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương để tiến hành thủ tục theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 47 và Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy đối với: 07 gậy bóng chày bằng kim loại màu trắng, phần tay cầm màu đen, bên trên có chữ “BAT”.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 18/12/2023 giữa Công an thị xã Bến Cát và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát).

4. Về trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong, không đề cập xem xét giải quyết.

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Mai Thành Đ, Mai Nhật T, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Thị Thanh T4, Nguyễn Hoài A, Võ Hoàng L, Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Trung H, Ninh Thành L, Võ Trọng N và Lý Hồng Thạnh Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

6. Về quyền kháng cáo:

- Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/12/2023).

- Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./

Cỡ chữ