vanban.org

Bản án 269/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Văn T.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Trần Văn T được ly hôn với chị Vũ Thị H. Về án phí: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Văn T - Vũ Thị H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Văn T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM YÊN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 269/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 13/9/2023
“V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hiếu.

2. Ông Bàn Đức Hiếu.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiếm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Vũ Phương Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 13/9/2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức số hóa vụ án dân sự thụ lý số 124/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/8/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2023/QĐST-HNGĐ ngày 25/8/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1986.

- Bị đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1994.

Cùng nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

(Anh T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Chị H đã được Tòa án triệu tập, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần nhưng tại phiên tòa vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo nội dung đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn anh Trần Văn T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Vũ Thị H có được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 01/9/2015 tại UBND xã Bình Xa, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Tình cảm vợ chồng trong thời gian đầu chung sống hạnh phúc bình thường, đến năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không thống nhất trong làm ăn phát triển kinh tế gia đình dẫn đến thường xuyên cãi chửi nhau. Anh xác định không còn tình cảm với chị Hồng, mâu thuẫn vợ chồng đã quá căng thẳng, trầm trọng, không thể đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình. Thực tế anh và chị Hồng đã sống ly thân nhau từ năm 2018 đến nay không ai quan tâm thăm hỏi gì đến nhau. Anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Vũ Thị H theo quy định pháp luật.

- Về con chung: Anh và chị Vũ Thị H không có con chung không đề nghị Tòa án giải quyết khi ly hôn.

- Về tài sản chung: Anh và chị Vũ Thị H không có tài sản chung không đề nghị Tòa án giải quyết khi ly hôn.

- Về công nợ chung: Anh và chị Vũ Thị H không vay nợ ai, không cho ai vay nợ, không đề nghị Tòa án giải quyết khi ly hôn.

Anh Trần Văn T xác định chị Vũ Thị H đã biết và được anh trực tiếp thông báo về việc anh gửi đơn đến Toà án nhân dân huyện Hàm Yên để giải quyết việc ly hôn giữa anh với chị H, nhưng chị H cố tình trốn tránh nghĩa vụ không đến Toà án làm việc.

Tại phiên tòa, anh Trần Văn T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh T giữ nguyên ý kiến đã trình bày nêu trên, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì khác.

* Đối với bị đơn chị Vũ Thị H:

Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên đã gửi Thông báo thụ lý vụ án số 124/2023/TLST-HNGĐ ngày 02/6/2023; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07/8/2023 và các văn bản tố tụng khác cho chị Vũ Thị H biết, báo gọi chị H nhiều lần đến Tòa án giải quyết vụ án nhưng chị H không trực tiếp đến Tòa án làm việc. Toà án đã phối hợp với đại diện thôn T, xã B trực tiếp đến nơi cư trú, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của chị H để lấy lời khai và làm việc nhưng chị H không có mặt tại gia đình và địa phương. Tòa án đã tiến hành làm việc với đại diện chính quyền địa phương (thôn, xã) và người thân của chị H để trực tiếp thông báo về việc anh T gửi đơn đến Toà án nhân dân huyện Hàm Yên để giải quyết việc ly hôn giữa anh T với chị H, nhưng chị H cố tình trốn tránh nghĩa vụ không đến Toà án làm việc. Như vậy người bị khởi kiện là chị Vũ Thị H đã cố tình trốn tránh nghĩa vụ nên Tòa án tiến hành thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục chung theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án xác minh tại địa phương thôn T, xã B và UBND xã B, huyện H được cung cấp: Hiện nay anh Trần Văn T và chị Vũ Thị H là công dân đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại thôn T, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Anh T và chị H được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 01/9/2015 tại UBND xã Bình Xa, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Tình cảm vợ chồng trong thời gian đầu chung sống hạnh phúc bình thường, đến khoảng năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do tính tình không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không thống nhất trong làm ăn phát triển kinh tế gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2018 đến nay mỗi người một nơi không quan tâm gì đến nhau nữa. Chị H thường xuyên đi làm ăn xa nhà, thi thoảng mới về địa phương thăm gia đình, chị H làm công việc gì, địa chỉ cụ thể ở đâu thì địa phương không biết. Đồng thời đại diện thôn T, xã B và gia đình chị H cũng xác định: Địa phương và gia đình đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án số 124/2023/TLST-HNGĐ ngày 02/6/2023 và các văn bản tố tụng của Tòa án về việc giải quyết ly hôn giữa anh T và chị H, do Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên gửi nhờ địa phương giao, tống đạt trực tiếp cho chị H biết nội dung. Tuy nhiên do chị H thường xuyên đi làm ăn xa vắng nhà, không có mặt tại địa phương nên gia đình chị H và đại diện thôn Tân Bình 2 đã trực tiếp gọi điện thoại thông báo cho chị H biết và tiến hành niêm yết Thông báo thụ lý vụ án số 124/2023/TLST- HNGĐ ngày 02/6/2023 và các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định pháp luật. Nay anh T làm đơn xin ly hôn với chị H, quan điểm của địa phương là đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Về tài liệu, chứng cứ: Các đương sự cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ gồm:

- Nguyên đơn anh Trần Văn Tcung cấp cho Tòa án: Đơn khởi kiện; 01 Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); 01 Căn cước công dân mang tên Trần Văn T (bản sao chứng thực); 02 xác nhận thông tin cư trú của Công an xã Bình Xa (bản chính);

- Bị đơn chị Vũ Thị H cung cấp cho Tòa án: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác, thông báo chị Vũ Thị H đến Tòa án làm việc để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định pháp luật. Tuy nhiên các lần thông báo của Tòa án chị H đều không đến làm việc nên Tòa án không tiến hành hòa giải được cho các bên đương sự suy nghĩ lại tình cảm để quay về hàn gắn, đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình. Vì vậy Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định chung của pháp luật.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

- Về tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Đối với nguyên đơn anh Trần Văn T chấp hành các quy định pháp luật tốt; Đối với bị đơn chị Vũ Thị H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhiều lần nhưng đều vắng mặt không đến Tòa án làm việc nên Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị H theo quy định pháp luật. Vì vậy có thể xác định chị Vũ Thị H đã cố tình trốn tránh nghĩa vụ của mình, nên vụ án được giải quyết theo thủ tục chung.

- Về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 39, Điều 147, điểm e khoản 1 Điều 192; các Điều 227, 228, 235, 238, 266, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Văn T.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Trần Văn T được ly hôn với chị Vũ Thị H.

- Về án phí: Anh Trần Văn T phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; Chị Vũ Thị H không phải chịu tiền án phí.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo bản án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng:

- Về thẩm quyền: Anh Trần Văn T có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị Vũ Thị H nên xác định đây là vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Theo thông tin anh T cung cấp và Tòa án xác minh thì hiện nay bị đơn chị Vũ Thị H là công dân đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại thôn T, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc vắng mặt của bị đơn chị Vũ Thị H tại phiên tòa: Qua xác minh tại địa phương nơi chị H đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi chị H thường xuyên sinh sống, gia đình chị H và chính quyền địa phương cung cấp: Chị H thường xuyên đi làm ăn xa nhà, thi thoảng mới về thăm gia đình và địa phương. Trước khi anh T nộp đơn ly hôn lên Tòa án thì anh T đã thông báo cho chị H biết việc anh T sẽ làm đơn ly hôn với chị H gửi Tòa án giải quyết, chị H biết nhưng nói không về Tòa án làm việc. Vì vậy Tòa án đã tiến hành các thủ tục theo quy định pháp luật về thụ lý vụ án, mở phiên họp công khai chứng cứ, xét xử thông qua anh Trần Văn T (chồng chị H) và chính quyền địa phương. Như vậy người bị kiện là chị Vũ Thị H đã cố tình trốn tránh nghĩa vụ nên Tòa án tiến hành thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục chung theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Vũ Thị H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn T và chị Vũ Thị H được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 01/9/2015 tại UBND xã Bình Xa, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Như vậy, quan hệ hôn nhân của anh T và chị H là hợp pháp.

Quá trình chung sống giữa anh T và chị H hạnh phúc đến năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do vợ chồng không hợp tính nhau, luôn bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không thống nhất trong làm ăn phát triển kinh tế gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Anh T xác định không còn tình cảm với chị H, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T với chị H đã quá căng thẳng, trầm trọng, không thể đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình. Thực tế anh T và chị H đã sống ly thân nhau từ năm 2018 đến nay không ai quan tâm thăm hỏi gì đến nhau nữa. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị H đã quá căng thẳng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thể đoàn tụ. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của anh Trần Văn T và xử cho anh T được ly hôn với chị Vũ Thị H theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Anh Trần Văn T xác định vợ chồng không có con chung không đề nghị Toà án giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, đất đai chung: Anh Trần Văn T xác định vợ chồng không có tài sản chung không đề nghị Toà án giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Về công nợ chung: Anh Trần Văn T xác định vợ chồng không vay nợ ai, không cho ai vay nợ, không đề nghị Toà án giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Anh Trần Văn T phải chịu toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm; Chị Vũ Thị H không phải chịu tiền án phí.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Điều 39, Điều 147, điểm e khoản 1 Điều 192; các Điều 227, 228, 235, 238, 266, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Văn T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Trần Văn T được ly hôn với chị Vũ Thị H.

2. Về án phí:

+ Anh Trần Văn T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0006597, ngày 02 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Ghi nhận anh Trần Văn T đã nộp đủ tiền án phí.

+ Bị đơn chị Vũ Thị H không phải nộp án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Anh Trần Văn T và chị Vũ Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ