- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Hiếu Tr phạm tội Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Hiếu T phạm tội “Cƣớp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 269/2022/HS-ST Ngày 12 - 9 - 2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Từ Anh Tuấn;
2. Ông Hồ Tấn Lộc;
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Ly, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 249/2022/HSST ngày 25/8/2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 266/2022/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:
Bùi Hiếu T, sinh năm 1996 tại tỉnh D; thƣờng trú: Số 205/2 hẻm tổ 35, khu phố 2, phƣờng A, thành phố A, tỉnh D; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Bùi Y K, sinh năm (không rõ) và bà Huỳnh Thị Bích L, sinh năm (không rõ); bị cáo có vợ tên Trần Thị Ngọc T, sinh năm 2002 (chƣa đăng ký kết hôn); có 03 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2022; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 20/4/2022 cho đến nay; có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Hà V, sinh năm 2001; thƣờng trú: Số 37/1 ấp Châu Thới 2, phƣờng T, thành phố Đ, tỉnh G; chỗ ở: Số 34/1 lô C, khu phố 3, phƣờng B, thành phố Đ, thành phố M. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Trần Thị Ngọc T, sinh năm 2002; thƣờng trú: Thôn 12, xã Quảng Ngạn, huyện Đ, tỉnh H; chỗ ở: Số 71/4 đƣờng M, khu phố T A, phƣờng H, thành phố A, tỉnh D. Có mặt.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1960; địa chỉ: Khu phố N 2, phƣờng A, thành phố A, tỉnh D. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 22 giờ ngày 19/4/2022, Bùi Hiếu T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Sonic, biển số 75E1-323.32 đi dạo quanh khu vực phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, khi đi đến đƣờng Nguyễn Trãi đoạn trƣớc Massage Rạng Đông thì nhìn thấy chị Nguyễn Hà V đang điều khiển xe mô tô đi cùng chiều phía trƣớc hƣớng về ngã ba Ông Xã, bên hông phải đeo 01 túi xách bằng vải màu trắng bên trong có con chó lai Chiahuahua. Tr tăng ga vƣợt lên áp sát bên phải chị V và dùng tay trái giật túi xách đựng chó rồi nhanh chóng tẩu thoát về hƣớng đƣờng Nguyễn Du vào một con hẻm thì dừng lại kiểm tra túi xách, ngoài con chó lai Chiahuahua thì trong túi còn 01 cây son hiệu Pefect diary. T ném túi xách và cây son bên lề đƣờng rồi đem con chó về nhà đƣa cho con chơi. Khoảng 14 giờ ngày 20/4/2022, Tr xem trên mạng Febook “tôi là dân Dĩ An” thấy chị V đăng tin tìm con chó, Tr nhắn tin với chị V nói mới mua đƣợc con chó của chị và yêu cầu chị V đƣa 2.000.000 đồng chuộc lại con chó thì chị V đồng ý, Tr hẹn chi V ra Quảng trƣờng Tr tâm hành chính Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng để chuộc lại. Khoảng 16 giờ ngày 20/4/2022, Tr đem con chó lai Chiahuahua đến khu vực Quảng trƣờng Tr tâm hành chính Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng để chị V chuộc lại thì bị lực lƣợng Công an phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng bắt giữ đƣa về trụ sở làm việc. Tại đây Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tang vật thu giữ: 01 con chó cảnh lai Chiahuahua; 01 xe môtô hiệu Honda Sonic, biển số 75E1-323.32.
Bản kết luận định giá tài sản số 42/KLĐGTS ngày 04/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản thƣờng xuyên thành phố Dĩ An kết luận 01 con chó lai Chihuahua trị giá 700.000 đồng; 01 cây son hiệu Pefect diary trị giá 100.000 đồng.
Ngày 29 tháng 4 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định khởi tố bị can và Lệnh tạm giam để điều tra đối với Bùi Hiếu T về tội “Cƣớp giật tài sản” quy định tại Điểm d, khoản 2, Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng số 271/CT-VKS-DA ngày 24 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố Bùi Hiếu T về tội “Cƣớp giật tài sản” quy định tại Điểm d, khoản 2, Điều 171 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo T về tội “Cƣớp giật tài sản” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm d, khoản 2, Điều 171; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Bùi Hiếu T từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
* Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) xe môtô hiệu Honda Sonic, biển số 75E1-323.32, số máy KB11E1248009, số khung MH1KB1117LK248586 chủ sở hữu là chị Trần Thị Ngọc Trâm là vợ của bị cáo T nhƣng chƣa đăng ký kết hôn. Chị T giao xe cho Tr sử dụng làm phƣơng tiện đi lại, chị Trâm không biết Tr sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị trả lại cho chị Trần Thị Ngọc T.
* Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Hà V đã nhận lại con chó lai Chihuahua và không yêu cầu bồi thƣờng nên không đặt ra xem xét.
Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự đồng thời bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại; biên bản bắt ngƣời có hành vi phạm tội quả tang và những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 22 giờ ngày 19/4/2022, tại đƣờng Nguyễn Trãi đoạn trƣớc Massage Rạng Đông, Bùi Hiếu T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Sonic, biển số 75E1-323.32 nhanh chóng tiếp cận bị hại Nguyễn Hà V giật chiếc túi vải màu trắng bên trong có con chó lai Chihuahua và 01 cây son hiệu Pefect diary có tổng trị giá 800.000 đồng.
Nhƣ vậy, hành vi trên đây của bị cáo Bùi Hiếu T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cƣớp giật tài sản” theo quy định tại Điểm d, khoản 2, Điều 171 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số: 271/CT-VKS ngày 24 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và kết luận của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Bùi Hiếu T về tội “Cƣớp giật tài sản” theo quy định Điểm d, khoản 2, Điều 171 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời là ngƣời có nhân thân tốt, là ngƣời lao động.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Về nhận thức bị cáo hoàn toàn biết hành vi Cƣớp giật tài sản của ngƣời khác là trái pháp luật nhƣng vì lòng tham, muốn chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác để phục vụ nhu cầu bản thân mà bị cáo cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Đối với hành vi sau khi cƣớp giật đƣợc tài sản của chị V, bị cáo T xem trên mạng Febook “tôi là dân Dĩ An” thấy chị V đăng tin tìm con chó, Tr nhắn tin với chị V nói mới mua đƣợc con chó của chị và yêu cầu chị V đƣa 2.000.000 đồng chuộc lại con chó thì chị V đồng ý. Bị cáo T không đe dọa dùng vũ lực hay có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của chị V nhằm chiếm đoạt số tiền 2.000.000 đồng nên không xem xét xử lý bị cáo T về Tội cƣỡng đoạt tài sản.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân và tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”. Tuy nhiên áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Xe mô tô hiệu Honda Sonic, biển số 75E1-323.32, số máy KB11E1248009, số khung MH1KB1117LK248586 chủ sở hữu là chị Trần Thị Ngọc T là vợ của bị cáo T nhƣng chƣa đăng ký kết hôn. Chị Trâm giao xe cho Tr sử dụng làm phƣơng tiện đi lại, chị T không biết Tr sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên trả lại cho chị T.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đƣa ra đối với bị cáo về tội danh, mức hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, về xử lý vật chứng là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Hiếu T phạm tội “Cƣớp giật tài sản”.
Áp dụng Điểm d, khoản 2, Điều 171; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Bùi Hiếu T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam là ngày 20/4/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Trả lại xe môtô hiệu Honda Sonic, màu đen - đỏ, biển số 75E1-323.32, số máy KB11E1248009, số khung MH1KB1117LK248586 cho chị Trần Thị Ngọc T.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/8/2022 tại Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng).
2. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Bùi Hiếu T phải nộp 200.000 (hai trăm nghin) đồng án phí hình sự
̀ sơ thẩm.
Bị cáo, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Dĩ An (01); - Công an thành phố Dĩ An (03); - Chi cục THA thành phố Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Ngƣời tham gia tố tụng (03); - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01); - THA hình sự (04); - UBND xã, phƣờng bị cáo thƣờng trú (01); - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dƣơng (01); - Phòng PC 10 CA tỉnh Bình Dƣơng (01); - Lƣu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Nam |