- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Hữu Ph - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Lê Thảo V, Nguyễn Thành M.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 269/2020/HS-PT Ngày 25 tháng 5 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Trần Thị Thu Thủy;
Các Thẩm phán:
Ông Lê Thành Văn;
Ông Phạm Công Mười.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thới Ngọc Bắc - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Phong Lưu - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 691/2019/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2019 đối với các bị cáo Lê Thảo V, Nguyễn Phát H, Nguyễn Thành M, Nguyễn Hoàng Quốc B; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2019/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
1/. Lê Thảo V, sinh ngày 27/5/2001 tại Tiền Giang; Địa chỉ: ấp B, Phường 5, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Văn Th, sinh năm 1978 và bà Lê Thùy L, sinh năm 1983; Bị cáo chưa có chồng con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. (có mặt)
Người đại diện hợp pháp của Lê Thảo V: Bà Lê Thùy L, sinh năm 1983. (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T1, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
2/. Nguyễn Phát H, sinh năm 1994 tại Tiền Giang; Địa chỉ: ấp B, xã Tr, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1965 và bà Lâm Thị Mỹ H, sinh năm 1969; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. (có mặt)
3/. Nguyễn Thành M, sinh ngày 15/10/2001; Địa chỉ: đường L, Phường 6, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: Lóp 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông Nguyễn Thành Tr, sinh năm 1969 và Huỳnh Ngọc X, sinh năm 1968; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. (có mặt)
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Thành M: Bà Huỳnh Ngọc X, sinh năm 1968. (có mặt)
Địa chỉ: đường L, Phường 6, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
4/. Nguyễn Hoàng Quốc B, sinh ngày 14/7/2002; Địa chỉ: ấp L, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: Lóp 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông Nguyễn Công Hoàng V, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị Cẩm D, sinh năm 1985; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. (có mặt)
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc B: Bà Nguyễn Thị Cẩm D, sinh năm 1985. (có mặt)
Địa chỉ: ấp L, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Thảo V, Nguyễn Thành M: Luật sư Nguyễn Văn T – Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc B: Luật sư Nguyễn Trung Ch – Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
(Trong vụ án còn có bị cáo Đoàn Hữu Ph, Huỳnh Minh Đ và đại diện người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do Lê Thảo V có quen biết từ trước với Lê Văn Th, nên khoảng 8 giờ ngày 06/9/2018, Th đến xã Tr, thành phố M sử dụng điện thoại nhắn tin rủ V đi chơi nhưng V không đi mà kêu Th tìm khách sạn để nghỉ lại. Đến khoảng 17 giờ chiều cùng ngày, Th tiếp tục nhắn tin rủ V đến khách sạn 79 thuộc xã Tr, thành phố M để sử dụng ma túy thì bị Huỳnh Minh Đ phát hiện nội dung tin nhắn. Sau khi tìm hiểu thì V kể về mối quan hệ quen biết giữa V và Th cho Đ nghe, sau khi nghe xong thì Đ kêu V liên lạc với Th để Đ gặp nói chuyện nhưng V chưa hẹn gặp Th.
Đến khoảng 20 giờ ngày 06/9/2018, khi Đ và V đang uống nước tại quán của Nguyễn Phát H dưới chân cầu R thuộc Phường 6, thành phố M thì Th tiếp tục nhắn tin cho V, Đ B V nhắn tin hẹn Th đến ngã tư Huyện lộ 94 thuộc ấp 2, xã Tr, thành phố M để nói chuyện và đón V. Sau khi V nhắn tin hẹn Th xong thì Đ kể lại nội dung việc Th nhắn tin qua lại với V cho Nguyễn Phát H, Nguyễn Hoàng Quốc B và Trần Thiên Ph nghe. Sau đó, H hỏi Đ rủ thêm Đoàn Hữu Ph và Nguyễn Thành M không thì Đ đồng ý, nên H và B đến tiệm game bắn cá cách quán nước của H khoảng 200 mét kêu Ph và M ra. Khi Ph và M ra khỏi cửa tiệm game bắn cá, thì Đ chở V cùng đến, lúc này có mặt Đ cùng với V, Ph, M, H, B, Ph1 thì Đ kể lại sự việc cho cả nhóm cùng nghe và rủ cả nhóm cùng đi đến ngã tư Huyện lộ 94 để đánh dằn mặt Th thì cả nhóm đồng ý. Đ điều khiển xe mô tô biển số 63B9-958.87 chở V, Ph1 điều khiển xe mô tô biển số 52M5-8204 chở M, H điều khiển xe mô tô biển số 63B9-716.41 chở Ph và B cùng đi tìm Th.
Khi cách ngã tư Huyện lộ 94 khoảng 50m, Đ dừng xe để V đi bộ đến gặp Th, còn Đ điều khiển xe chở Ph, xe của H và Ph1 cũng vừa dừng lại, tại thời điểm này Ph hỏi Đ có mang theo dao không thì Đ trả lời là dao để cặp hông xe và Ph đưa tay xuống hông xe lấy được dao loại dao Thái Lan dài 3 l,5cm, cán màu đen dài 12cm, rộng 2,5cm dày l,2cm, trên cán có chữ KIWI, lưỡi bằng kim loại dài 19,5cm, mũi nhọn, trên lưỡi có chữ KIWI BRAND MADE IN THAILAN cầm trên tay rồi cả nhóm cùng điều khiển xe qua lại ngã tư nhiều lần thì phát hiện Th nên Đ dừng xe song song phía ngoài xe mô tô biển số 63B5-356.88 của Th để nói chuyện, Ph đứng phía trước đầu xe của Th. Trong lúc nói chuyện Đ nắm cổ áo của Th định đánh thì Th bỏ chạy, Đ tháo nón B hiểm ném về phía Th, rồi cùng Ph đuổi theo Th thì Th bị té ngã, Ph sử dụng dao Thái Lan đâm 02 nhát vào lưng, Th vùng thoát được và chạy ngược trở lại hướng đậu xe thì bị M dùng chân đá trúng tay phải nên ngã xuống chân hàng rào lưới B40 lọt vào bên trong, chạy vào nhà chị Nguyễn Thị Kim H tại ấp 4, xã Tr, thành phố M, tỉnh Tiền Giang kêu cứu, sau đó tử vong nên chị H trình báo đến Công an.
Đối với nhóm của Đ, sau khi Ph đâm và Th bỏ chạy vào nhà chị H thì Ph đưa dao cho lại Đ cất giữ rồi cả nhóm đi đến quán nước của H để uống nước, riêng Ph1 ra về trước. Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 06/9/2018, khi cả nhóm gồm Đ, V, Ph, H, B, M đang uống nước thì V mở facebook vào tài khoản mang tên “Q” có nêu nội dung “Tr có biến....đâm ngủm củ tỏi” nên V nói lại cho nhóm và cả nhóm biết Lê Văn Th đã bị Ph đâm chết. Sau khi về nhà, Đ giấu con dao và chiều ngày 07/9/2018, Đ chở V đi đến kênh B, thuộc tổ 13, ấp Ph, xã Ph1, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, V trực tiếp ném con dao để che giấu hành vi giết người. Đến chiều ngày 08/9/2018, Đ, Ph, V, H, B và M cùng bỏ trốn đến thành phố Hồ Chí Minh thì bị Cơ quan điều tra phát hiện nên Đ, Ph đã đến Công an đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Theo Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 193/2018/TTh ngày 07/9/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Tiền Giang kết luận nguyên nhân chết của anh Lê Văn Th: Mất máu cấp do vết thương thủng ngực phải, tràn máu màng phổi bên phải; thủng phổi thùy đáy; đứt động mạch, tĩnh mạch và phế quản phổi.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2019/HSST ngày 20 tháng 9 năm 2019, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Lê Thảo V phạm tội “Che giấu tội phạm”; các bị cáo Nguyễn Phát H, Nguyễn Thành M, Nguyễn Hoàng Quốc B phạm tội “Không tố giác tội phạm”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 389, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 91, 101 Bộ luật hình sự,
Xử phạt bị cáo Lê Thảo V 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 390, điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phát H 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 390, điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự,
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thành M 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc B 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh và hình phạt đối với Đoàn Hữu Ph, Huỳnh Minh Đ; tuyên về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Ngày 25/9/2019, bị cáo Lê Thảo V và Nguyễn Hoàng Quốc B làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Ngày 30/9/2019, bị cáo Nguyễn Phát H làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Ngày 04/10/2019, bị cáo Nguyễn Thành M làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lê Thảo V, Nguyễn Thành M xin rút lại toàn bộ yêu cầu kháng cáo; bị cáo Nguyễn Phát H và Nguyễn Hoàng Quốc B vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Thảo V, Nguyễn Thành M tự nguyện rút lại toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với kháng cáo của bị cáo V và M. Đối với bị cáo Nguyễn Phát H và Nguyễn Hoàng Quốc B, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo phạm tội “Không tố giác tội phạm” là đúng người, đúng tội. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ và xử phạt các bị cáo mức hình phạt phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc B và bị cáo Nguyễn Phát H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, hiểu biết pháp luật còn hạn chế; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, riêng bị cáo B là người chưa thành niên; từ đó giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:
Vào ngày 06/9/2018, do bực tức việc Lê Văn Th nhắn tín cho Lê Thảo V rủ đi chơi nên Huỳnh Minh Đ rủ Đoàn Hữu Ph, Nguyễn Phát H, Nguyễn Thành M, Nguyễn Hoàng Quốc B cùng với Lê Thảo V đến gặp Th để nói chuyện. Trong lúc nói chuyện, giữa Đ và Th xảy ra cãi vã, xô xát, Đ dùng nón B hiểm đánh Th, Th bỏ chạy thì Đ và Ph đuổi theo, Ph dùng dao Thái Lan đâm 02 nhát vào lưng của Th dẫn đến tử vong.
Sau đó, cả nhóm cùng đến quán nước nhà H để uống nước. Khi biết tin Th đã chết, Đ giấu con dao và chở V đến kênh B, tại đây V ném con dao gây án xuống kênh để che giấu hành vi giết người. Đến chiều ngày 08/9/2018 thì cả nhóm gồm Đ, Ph, H, V, M, B cùng bỏ trốn lên Thành phố Hồ Chí Minh thì bị cơ quan điều tra phát hiện.
Với hành vi như đã nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Thảo V phạm tội “Che giấu tội phạm” theo điểm b khoản 1 Điều 389 Bộ luật hình sự năm 2015; Nguyễn Phát H, Nguyễn Thành M và Nguyễn Hoàng Quốc B phạm tội “Không tố giác tội phạm” theo khoản 1 Điều 390 Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người đúng tội.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Thảo V và Nguyễn Thành M đã tự nguyện rút lại toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự đình chỉ xét xử đối với kháng cáo của bị cáo Lê Thảo V và Nguyễn Thành M.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Phát H, Nguyễn Hoàng Quốc B, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo biết việc Huỳnh Minh Đ và Đoàn Hữu Ph đã gây nên cái chết cho người bị hại, đây là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhưng H và B cùng với M, Đ, Ph bỏ trốn gây ảnh hưởng cho quá trình điều tra vụ án. Hành vi của các bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các bị cáo phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo B phạm tội khi chưa thành niên; gia đình bị cáo H có nhân thân có công với cách mạng; từ đó xử phạt bị cáo H 02 năm tù, bị cáo B 09 tháng tù là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới, đồng thời mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Phát H, Nguyễn Hoàng Quốc B phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Lê Thảo V, Nguyễn Thành M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 348, điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,
1/. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Lê Thảo V, Nguyễn Thành M.
2/. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phát H, Nguyễn Hoàng Quốc B. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2019/HS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang về phần hình phạt đối với các bị cáo.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phát H, Nguyễn Hoàng Quốc B phạm tội “Không tố giác tội phạm”.
Áp dụng khoản 1 Điều 390, điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phát H 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 390, điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc B 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
3/. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
4/. Bị cáo Nguyễn Phát H, Nguyễn Hoàng Quốc B mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Lê Thảo V, Nguyễn Thành M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
5/. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSND cấp cao tại TP. HCM; - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - Cục THADS tỉnh Tiền Giang; - Công an tỉnh Tiền Giang; - Sở tư pháp tỉnh Tiền Giang; - BCTN (4); - Lưu VP (3), HS (2).16b.HDT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Thủy |