- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần ngọc Đ - TCĐB - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc Đ phạm tội:“Tổ chức đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 269/2018/HS-ST Ngày: 25/10/2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lệ Thủy;
- Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Đào Ngọc Chiến;
- Ông Bùi Bá Huynh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Mỹ, Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Ông Lê Anh Tuấn, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 10 năm 2018, tại Trụ s Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 269/2018/TLST-HS ngày 05/10/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 330/2018/QĐXXST-HS ngày 12/10/2018, đối với bị cáo:
Trần Ngọc Đ; Sinh năm 1965; Giới tính: Nam; HKTT: Số 134 Trần Bình, tổ 9, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/10; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Trâm Oanh (Đã chết); Con bà: Trần Thị Nhỡ; Vợ: Thái Thị Hoa; Bị cáo có 02 con (Con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1991); Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Danh chỉ bản số 471 lập ngày 12/7/2018, tại Công an quận Nam Từ Liêm;
Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, bị tạm giữ từ ngày 06/6/2018 đến ngày 09/6/2018. Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Hoàng Anh Tuấn; Sinh năm:1992; HKTT: Thôn Thai Bạ, xã Thiện Kế, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang;
2. Anh Nguyễn Hoàng Ngọc; Sinh năm: 1983; HKTT: Khu 11, xã Đỗ Xuyên, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
(Anh Tuấn và anh Ngọc đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 06/6/2018, tổ công tác Đội Cảnh sát Hình sự Công an quận Nam Từ Liêm làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang Trần Ngọc Đ đang có hành vi bán số lô, số đề cho Hoàng Anh Tuấn (Sinh năm:1992; HKTT: Thôn Thai Bạ, xã Thiện Kế, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang) và Nguyễn Hoàng Ngọc (Sinh năm: 1983; HKTT: Khu 11, xã Đỗ Xuyên, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ) tại nhà của Đam số 134 Trần Bình, tổ 9, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Tổ công tác đã đưa các đối tượng cùng vật chứng về trụ s Công an để giải quyết.
Vật chứng thu giữ, gồm có:
- 01 bảng ghi số lô, số đề ngày 06/6/2018 và 3.296.000 đồng (Thu giữ của Trần Ngọc Đ);
- 01 tờ tích kê có ghi số lô và 90.000 đồng (Thu giữ của Hoàng Anh Tuấn);
- 01 tờ tích kê có ghi sô lô (Thu giữ của Nguyễn Hoàng Ngọc).
Quá trình điều tra, xác định: Khoảng tháng 3/2018, Trần Ngọc Đ m quán bán nước tại nhà riêng, địa chỉ 134 Trần Bình, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội và tổ chức đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức bán số lô, số đề cho khách. Đam quy ước với người mua số lô, số đề được chọn số từ 00 đến 99. Với mỗi số, Đam bán giá như sau: 23.000 đồng/1 điểm lô; 10.000 đồng/1 điểm lô xiên các loại; 10.000 đồng/1 điểm đề 3 càng, Đam sẽ ghi số lô, số đề đã bán cho khách vào một tờ tích kê (Cáp ghi số lô, số đề) trên có chữ ký của Đam giao cho khách để làm tin. Đam trực tiếp tính thắng thua với khách bằng cách so sánh số lô với 2 số cuối của tất cả các giải, số đề so sánh với số cuối giải đặc biệt kết quả xổ số Miền Bắc m thư ng vào lúc 18 giờ 15 phút hàng ngày, nếu trúng thì 1 điểm lô được 80.000 đồng; 1 điểm lô xiên 2 được 100.000 đồng; 1 điểm lô xiên 3 được 400.000 đồng; 1 điểm lô xiên 4 được 1.000.000 đồng; 1.000 đồng đề được 70.000 đồng; 1.000 đồng đề 3 càng được 400.000 đồng.
Khoảng 17 giờ 50 phút, ngày 06/6/2018 Hoàng Anh Tuấn đến quán nước của Đam mua hai số lô xiên 2: (36, 63) và (68, 86) mỗi số 2 điểm = 40.000 đồng; Mua 5 điểm số lô xiên 3: (56, 37, 46) = 50.000 đồng, tổng số tiền là 90.000 đồng. Đam đã viết cáp ghi số lô đưa cho Tuấn, nhưng Tuấn chưa thanh toán tiền cho Đam. Tiếp đó, khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Hoàng Ngọc đến quán nước của Đam mua số lô 88 = 230.000 đồng. Khi Ngọc trả tiền mua số lô cho Đam và Đam đưa cáp ghi số lô cho Ngọc thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang.
Tại thời điểm bắt giữ, Cơ quan Công an phát hiện thu giữ của Trần Ngọc Đ 01 bảng ghi số lô, số đề mà Đam đã bán được cho khách trong ngày 06/6/2018, gồm: 30 số lô tương ứng 770 điểm lô được số tiền 17.710.000 đồng; 03 số lô xiên tương ứng 150 điểm lô xiên được số tiền 1.500.000 đồng; 45 số đề tương ứng với số tiền 9.871.000 đồng; 04 số đề ba càng tương ứng với số tiền 560.000 đồng.
Tổng số tiền mà Trần Ngọc Đ bán số lô, số đề cho khách trong ngày 06/6/2018 là: 29.961.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi chín triệu, chín trăm sáu mươi mốt nghìn đồng).
Đối với Hoàng Anh Tuấn và Nguyễn Hoàng Ngọc có hành vi: “Đánh bạc”, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, nên ngày 06/09/2018, Công an quận Nam Từ Liêm đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 295,296/QĐ-XPVPHC, về hành vi: “Mua số lô” đối với Hoàng Anh Tuấn và Nguyễn Hoàng Ngọc. Mức phạt tiền: 350.000 đồng/1 người.
Những khách mua số lô, đề của Trần Ngọc Đ trong ngày 06/6/2018, Đam không biết là ai, làm gì, đâu, nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, Trần Ngọc Đ khai nhận hành vi phạm tội.
Bản cáo trạng số 286/CT-VKS ngày 28/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Trần Ngọc Đ về tội:“Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Điều luật quy định:
“1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng một lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên.”
Tại phiên toà:
Bị cáo Trần Ngọc Đ thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo về tội:“Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015, là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân của bị cáo và kết luận, giữ quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Trần Ngọc Đ về tội:“Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là lao động chính trong gia đình, vợ bị cáo bị bệnh hiểm nghèo, giai đoạn cuối, đang phải điều trị tại Bệnh viện K, cần có sự chăm sóc của bị cáo, nên, bị cáo được hư ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, cho bị cáo được hư ng án treo, giao bị cáo về chính quyền địa phương, nơi bị cáo cư trú, để giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách, cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Đ từ 18 tháng đến 24 tháng tù, nhưng cho hư ng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng. Về hình phạt bổ sung theo quy định tại Khoản 3 Điều 322 của Bộ luật hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử phạt tiền 20.000.000 đồng đối với bị cáo. Về dân sự: Không; Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Khoản 1, Điểm b Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước: 3.386.000 đồng (Bằng chữ: Ba triệu, ba trăm tám mươi sáu nghìn đồng), là số tiền do phạm tội mà có; Lưu hồ sơ vụ án: 01 bảng ghi số lô, số đề ngày 06/6/2018 và 02 tờ tích kê có ghi số lô.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy, có đủ cơ s để xác định: Khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 06/6/2018, tại nhà số 134 Trần Bình, tổ 9, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Trần Ngọc Đ đang có hành vi: “Tổ chức đánh bạc” bằng hình thức bán số lô, số đề cho Hoàng Anh Tuấn và Nguyễn Hoàng Ngọc, thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát Hình sự Công an quận Nam Từ Liêm phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng. Tổng số tiền mà Đam bán số lô, số đề cho khách trong ngày 06/6/2018 là: 29.961.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi chín triệu, chín trăm sáu mươi mốt nghìn đồng).
Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Ngọc Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội:“Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đã truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến trật tự công cộng, mà còn xâm phạm đến đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà Nước về phòng chống các tệ nạn xã hội, còn là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, nhận thức rõ hành vi: “Tổ chức đánh bạc” là vi phạm pháp luật, nhưng với mục đích lấy tiền từ việc thắng thua của người đánh bạc, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do vậy, bị cáo được hư ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xét các tình tiết khác, bị cáo là lao động chính trong gia đình, vợ bị cáo bị bệnh hiểm nghèo, giai đoạn cuối, đang phải điều trị tại Bệnh viện K, cần có sự chăm sóc của bị cáo, được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích trên, xét thấy, cần phải áp dụng mức hình phạt tù nghiêm mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình, xét thấy, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nên, áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, đối với bị cáo, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, giao bị cáo về chính quyền địa phương, nơi bị cáo cư trú, để giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách, cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Khoản 1, Điểm b Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước: 3.386.000 đồng (Bằng chữ: Ba triệu, ba trăm tám mươi sáu nghìn đồng), là số tiền do phạm tội mà có; Lưu hồ sơ vụ án: 01 bảng ghi số lô, số đề ngày 06/6/2018 và 02 tờ tích kê có ghi số lô, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với việc giải quyết vụ án: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Đ từ 18 tháng đến 24 tháng tù, nhưng cho hư ng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng, là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội bị cáo gây ra. Tuy nhiên, căn cứ vào nhân thân và các tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 322 của Bộ luật hình sự năm 2015, xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, gia đình bị cáo rất khó khăn, vợ bị cáo bị bệnh hiểm nghèo, giai đoạn cuối, đang phải điều trị tại Bệnh viện K, nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Nam Từ Liêm, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc Đ phạm tội:“Tổ chức đánh bạc”.
Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 322; Điểm s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc Đ 15 (Mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Khoản 1, Điểm b Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước: 3.386.000 đồng (Bằng chữ: Ba triệu, ba trăm tám mươi sáu nghìn đồng), (Theo giấy nộp tiền vào tài khoản, lập ngày 03/10/2018, tại Kho bạc Nhà Nước Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội). Lưu hồ sơ vụ án: 01 bảng ghi số lô, số đề ngày 06/6/2018 và 02 tờ tích kê có ghi số lô.
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụngán phí và lệ phí Toà án;
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;Người có quyền lợi, nghĩa
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA vụ liên quan;
- VKSND Q.Nam Từ Liêm;
- VKSND thành phố Hà Nội;
- TAND thành phố Hà Nội;
- Công an Q.Nam Từ Liêm;
- TT lý lịch-S Tư pháp TP.Hà Nội;
- Chi cục THADS Q.NamTừ Liêm;
- Bộ phận Thi hành án HS TAND
Đỗ Thị Lệ Thủy quận Nam Từ Liêm;
- UBND phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội;
- Lưu HS - VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Lệ Thủy Nơi nhận:
- Lưu HS. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Q.Nam Từ Liêm;
- VKSND thành phố Hà Nội;
- TAND thành phố Hà Nội;
- Công an Q.Nam Từ Liêm;
- TT lý lịch-S Tư pháp TP.Hà Nội;
- Chi cục THADS Q.NamTừ Liêm;
- Bộ phận Thi hành án HS TAND
Đỗ Thị Lệ Thủy quận Nam Từ Liêm;
- Lưu HS - VP.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Lệ Thủy Nơi nhận:
- Lưu HS. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo; Người bị hại;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- VKSND Q.Nam Từ Liêm;
- VKSND thành phố Hà Nội;
- TAND thành phố Hà Nội;
- Công an Q.Nam Từ Liêm;
- TT lý lịch-S Tư pháp TP.Hà Nội;
- Chi cục THADS Q.NamTừ Liêm;
- Bộ phận Thi hành án HS TAND
Đỗ Thị Lệ Thủy quận Nam Từ Liêm;
- Lưu HS - VP.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Lệ Thủy Nơi nhận:
- Lưu HS. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo; Người bị hại;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Q.Nam Từ Liêm;
- VKSND thành phố Hà Nội;
- TAND thành phố Hà Nội;
- Công an Q.Nam Từ Liêm;
- TT lý lịch-S Tư pháp TP.Hà Nội;
- Chi cục THADS Q.NamTừ Liêm;
- Bộ phận Thi hành án HS TAND quận Nam Từ Liêm;
Đỗ Thị Lệ Thủy
- Ủy ban nhân dân xã Yên Giang, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa;
- Gia đình bị cáo;
- Lưu HS - VP.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Lệ Thủy
| Nơi nhận: - Lưu HS. |