- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà — án dân sự — "ông A - ông C"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn- ông A và bị đơn- ông C.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 268/2023/DS-PT Ngày: 10/3/2023 V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Tiên
Các Thẩm phán: 1. Bà Nguyễn Thị Minh Phượng
2. Bà Phạm Thị Kim
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Võ Quỳnh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoàng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10/3/2023, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Thành phố H, đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 603/2022/TLPT-DS ngày 20/12/2022, về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ”
Do bản án dân sự sơ thẩm số 3452/2022/DS-ST ngày 12/9/2022 của Tòa án
nhân dân Thành phố V, Thành phố H bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 903/2023/QĐXX-PT ngày 13/01/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 316/2023/QĐ-PT ngày 09/02/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 415/2023/QĐ-PT ngày 28/02/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông A, sinh năm: 1986
Địa chỉ: Căn hộ Z Tháp Y, Chung cư X, phường W, Thành phố V, Thành
phố H.
Đại diện theo ủy quyền: Ông B, sinh năm 1993 (có mặt)
Địa chỉ: 54E đường U, phường T, Quận S, Thành phố H (Giấy ủy quyền số công chứng 003725, quyển số 11/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/11/2021 tại Văn phòng công chứng Lê Hùng Anh và Giấy ủy quyền số 01/2021/UQ-CL ngày 08/11/2021).
Bị đơn: Ông C, sinh năm: 1981
Địa chỉ: Căn hộ R,Tầng Q, Lô P Chung cư X, phường W, Thành phố V, Thành phố H.
Đại diện theo ủy quyền: Ông D, sinh năm: 1978 (có mặt)
Địa chỉ: Phòng O, Block N, chung cư M, đường số Q, phường L, Thành phố V, Thành phố H (Giấy ủy quyền số công chứng 8733, quyển số 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/4/2022 tại Văn phòng Công chứng Bình Thạnh).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà E (vắng mặt).
Địa chỉ: Căn hộ Z Tháp Y, Chung cư X, phường W, Thành phố V, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của đại diện nguyên đơn:
Ngày 12/3/2021, nguyên đơn và bị đơn cùng ký kết Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư số K, tháp J, khu chung cư thương mại X, số I, đường H, phường W, Thành phố V, Thành phố H theo Hợp đồng công chứng số 5403, quyển số 3 TP/CC-SCC/ĐGD tại Phòng Công chứng G. Theo hợp đồng mua bán căn hộ, bị đơn có trách nhiệm nộp thuế thu nhập cá nhân. Ngày 16/6/2021, Chi cục Thuế Quận F có thông báo số LTB2170103- K0007571/TB-CCT về nộp thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân chuyển nhượng bất động sản. Nguyên đơn và bên môi giới đã nhiều lần yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nhưng bị đơn không thực hiện, cố tình trì hoãn việc nộp thuế, cản trở việc sang tên căn hộ cho nguyên đơn. Để tránh bị phạt vi phạm hành chính, nhằm hoàn thành việc đăng ký cập nhật sang tên căn hộ, ngày 12/7/2021, nguyên đơn đã phải ứng tiền nộp thuế thu nhập cá nhân của bị đơn tại chi cục thuế Quận F, Thành phố H. Sau đó, bị đơn vẫn không trả lại cho nguyên đơn số tiền này.
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả cho ông số tiền 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu đồng) và tiền lãi chậm thanh toán với lãi suất chậm trả 10%, từ ngày 12/7/2021 tính đến ngày 09/10/2021 là 3.901.370 đồng (ba triệu, chín trăm lẻ một nghìn, ba trăm bảy mươi đồng), tổng cộng là 163.901.370 đồng. Nguyên đơn rút 01 phần yêu cầu đối với yêu cầu tính lãi từ ngày 10/10/2021 đến ngày xét xử.
Đồng thời buộc bị đơn bồi thường phí luật sư mà nguyên đơn phải chịu phát sinh từ vụ kiện này, với tổng số tiền 99.000.000 đồng (chín mươi chín triệu đồng) bao gồm: Phí dịch vụ pháp lý cho giai đoạn tố tụng ở Tòa án cấp sơ thẩm, các khoản phí chi ngoài bao gồm nhưng không giới hạn các khoản phí công chứng, chứng thực, phí lưu hồ sơ, các loại phí do luật quy định theo Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 0310/2021/TIN-CELIGAL và Hợp đồng ủy quyền số công chứng 003725, quyển số 11/2021TP/CC- SCC/HĐGD lập ngày 04/11/2021 giữa ông A và Công ty Luật F.
Bị đơn có đại diện theo ủy quyền là ông D trình bày xác nhận lời khai của phía nguyên đơn về Hợp đồng mua bán căn hộ giữa hai bên, xác nhận bị đơn có nghĩa vụ đóng thuế thu nhập với số tiền là 160.000.000 đồng. Tuy nhiên, do thời điểm Chi cục Thuế Quận F Thành phố H ban hành thông báo nộp thuế là thời điểm đỉnh dịch Covid tại Thành phố H. Thành phố đang áp dụng Chỉ thị giãn cách xã hội nên bị đơn không thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân. Bị đơn đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền thuế đã nộp là 160.000.000 đồng với điều kiện nguyên đơn phải trả lại cho bị đơn toàn bộ số vật dụng trong nhà bao gồm: Bàn trang điểm + ghế; Bộ bàn ghế ban công; Bộ Sofa phòng khách; Kệ ti vi phòng ngủ; Kệ sách; Két sắt (tất cả đều có số lượng 01). Bị đơn không đồng ý trả tiền lãi chậm trả theo yêu cầu của nguyên đơn.
Tại Bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà E trình bày: Bà là vợ của nguyên đơn, trong vụ án này bà thống nhất với yêu cầu của nguyên đơn và không có yêu cầu gì thêm.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 3452/2022/DS-ST ngày 12/9/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố V, Thành phố H đã tuyên xử:
1. Chấp nhận 01 phần yêu cầu của nguyên đơn ông A:
Buộc ông C trả cho ông A số tiền 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu đồng) và tiền lãi chậm thanh toán theo lãi suất chậm trả 10% từ ngày 12/7/2021 đến ngày 09/10/2021 là 3.901.370 đồng (ba triệu, chín trăm lẻ một nghìn, ba trăm bảy mươi đồng), tổng cộng là 163.901.370 đồng.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông A về việc tính lãi từ ngày
10/10/2021 đến ngày xét xử.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A về việc Buộc ông C bồi thường phí luật sư là 99.000.000 đồng (chín mươi chín triệu đồng).
Các bên thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Dành cho ông C quyền khởi kiện yêu cầu ông A trả các vật dụng: Bàn trang điểm + ghế; Bộ bàn ghế ban công; Bộ Sofa phòng khách; Kệ ti vi phòng ngủ; Kệ sách; Két sắt nếu có yêu cầu.
Kể từ ngày ông A có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông C không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả số tiền nói trên thì hàng tháng ông C còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền tính trên nghĩa vụ chi trả. Nếu các bên không có thỏa thuận thì lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn qui định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự cũng như các quy định về thi hành án dân sự.
- Ngày 22/9/2022, nguyên đơn kháng cáo đề nghị sửa án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Ngày 07/10/2022, bị đơn kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện nguyên đơn trình bày giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện bị đơn cũng giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các thành viên Hội đồng xét xử cũng như các đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
- Căn cứ “Giấy nộp tiền vào Ngân sách nhà nước” số 4109360 ngày 12/7/2021 và lời khai thừa nhận của phía bị đơn, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên buộc bị đơn hoàn trả cho nguyên đơn số tiền thuế thu nhập các nhân 160.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 12/7/2021 đến ngày 09/10/2021 là hoàn toàn đúng pháp luật.
Nguyên đơn xác định chỉ yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi chậm trả theo lãi suất 10%/năm từ ngày 12/7/2021 đến ngày 09/10/2021 là 3.901.370 đồng và đã được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận. Do đó, việc tại đơn kháng cáo, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi chậm trả tính từ ngày 10/10/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 08/9/2022) là vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện.
- Về yêu cầu buộc bị đơn phải bồi thường phí luật sư là 99.000.000 đồng:
Căn cứ khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 và quy định tại Mục 1 Phần I của Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/06/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì xét thấy thiệt hại xảy ra trên thực tế của nguyên đơn xuất phát từ hành vi chậm trả 160.000.000 đồng của bị đơn đã được xem xét, giải quyết bằng việc buộc bị đơn phải trả tiền lãi chậm trả. Việc nguyên đơn thực hiện Hợp đồng dịch vụ pháp lý ngày 03/10/2021 với Công ty Luật F là tự nguyện (luật pháp Việt Nam không bắt buộc), không có mối quan hệ nhân quả với hành vi chậm trả 160.000.000 đồng của bị đơn, do đó yêu cầu kháng cáo trên của nguyên đơn là không có cơ sở chấp nhận.
- Đối với kháng cáo của bị đơn: Xét ngày 12/7/2021, bị đơn biết bản thân phải nộp thuế thu nhập cá nhân từ việc chuyển nhượng căn hộ cho nguyên đơn số tiền 160.000.000 đồng, nhưng không thực hiện khiến nguyên đơn phải nộp thay để tránh bị phạt vi phạm hành chính và nhằm hoàn thành việc đăng ký cập nhật sang tên căn hộ. Do đó, ngoài việc phải hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 160.000.000 đồng, bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả với mức lãi suất 10%/năm cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015. Vì vậy, yêu cầu kháng cáo trên của bị đơn là không có cơ sở chấp nhận.
Từ nhận định trên, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ y bản án dân sự sơ thẩm số 3452/2022/DS-ST ngày 12/9/2022 của Tòa án nhân dân Thành phốV, Thành phố H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, phát biểu tranh luận của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà, bị đơn cư trú tại V nên Tòa án nhân dân Thành phố V thụ lý giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm là đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ tranh chấp theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn được thực hiện trong thời hạn luật định, nên được chấp nhận xem xét.
. Về nội dung:
Căn cứ Điều 4 của Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư đã được công chứng số 5403, quyển số 3 TP/CC- SCC/ĐGD lập ngày 12/03/2021 tại Phòng Công chứng Bình Thạnh, Thành phố H giữa ông A và ông C thì thuế thu nhập cá nhân phát sinh từ việc chuyển nhượng căn hộ, lệ phí công chứng hợp đồng do bên A (tức ông C) chịu trách nhiệm phải nộp. Bên B (tức ông A) chịu trách nhiệm khai và nộp thay bên A; bên B được quyền cấn trừ tiền thuế thu nhập cá nhân của bên A khi thanh toán đợt 2 của Hợp đồng này.
Căn cứ lời khai của đại diện bị đơn thừa nhận bị đơn đang nợ nguyên đơn số tiền thuế thu nhập cá nhân 160.000.000. đồng (do nguyên đơn đã nộp thay), như vậy đã đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn hoàn trả cho nguyên đơn số tiền này.
Về yêu cầu thanh toán tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất 10%/năm tính từ ngày 12/7/2021 đến ngày 09/10/2021;
Căn cứ Giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước số 4109360 ngày 12/7/2021, nhận thấy nguyên đơn đã thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cá nhân thay bị đơn và bị đơn xác nhận có biết việc này. Như vậy, từ ngày 12/7/2021, bị đơn biết bản thân phải nộp thuế thu nhập cá nhân từ việc chuyển nhượng căn hộ cho nguyên đơn số tiền 160.000.000 đồng, nhưng không thực hiện khiến nguyên đơn phải nộp thay để tránh bị phạt vi phạm hành chính và nhằm hoàn thành việc đăng ký cập nhật sang tên căn hộ. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền cho nguyên đơn nên phải có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả với mức lãi suất 10%/năm là phù hợp với quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015. Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về tính lãi chậm trả từ ngày 12/7/2021 đến ngày 09/10/2021 là đúng pháp luật.
Đối với yêu cầu buộc bị đơn bồi thường phí luật sư với số tiền 99.000.000 đồng;
Xét việc nguyên đơn ký Hợp đồng dịch vụ pháp lý ngày 03/10/2021 với Công ty Luật F là tự nguyện, không có mối quan hệ nhân quả với hành vi chậm trả 160.000.000 đồng của bị đơn, nên không có cơ sở buộc bị đơn bồi thường chi phí này theo Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là không có cơ sở chấp nhận.
Đối với ý kiến của bị đơn về việc yêu cầu nguyên đơn ông A trả toàn bộ số vật dụng trong nhà bao gồm Bàn trang điểm và ghế; Bộ bàn ghế ban công; Bộ Sofa phòng khách; Kệ ti vi phòng ngủ; Kệ sách; Két sắt (tất cả đều có số lượng 01): Mặc dù đã được Tòa án giải thích pháp luật về quyền và nghĩa vụ thực hiện yêu cầu phản tố, nhưng bị đơn vẫn không nộp đơn yêu cầu, nên Tòa án cấp sơ thẩm không không xem xét và giải quyết, dành cho bị đơn quyền khởi kiện đối với yêu cầu này trong vụ án khác là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.
Với nhận định nêu trên, xét thấy yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn là không có cơ sở chấp nhận, Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, giữ y bản án dân sự sơ thẩm.
. Về án phí dân sự sơ thẩm: đương sự phải chịu án phí có giá ngạch đối với yêu cầu không được Tòa án chấp nhận.
. Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, người kháng cáo là ông A và ông C mỗi người phải chịu 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 1 Điều 148; Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Khoản 1 Điều 351; Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm
2014;
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn- ông A và bị đơn- ông C.
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 3452/2022/DS-ST ngày 12/9/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố V, Thành phố H.
2.1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn- ông A:
Buộc bị đơn- ông C trả cho ông A số tiền 160.000.000 (Một trăm sáu mươi triệu) đồng và tiền lãi chậm thanh toán theo lãi suất chậm trả 10%/năm tính từ ngày 12/7/2021 đến ngày 09/10/2021 là 3.901.370 (Ba triệu, chín trăm lẻ một nghìn, ba trăm bảy mươi) đồng. Tổng số tiền phải thanh toán là 163.901.370 (Một trăm sáu mươi ba triệu, chín trăm lẻ một nghìn, ba trăm bảy mươi) đồng.
2.2 Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông A về việc tính lãi từ ngày 10/10/2021 đến ngày xét xử.
2.3 Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A về việc buộc ông C bồi thường phí luật sư là 99.000.000 (Chín mươi chín triệu) đồng.
2.4 Dành cho ông C quyền khởi kiện đối với ông A về việc đòi các vật dụng: Bàn trang điểm và ghế; Bộ bàn ghế ban công; Bộ Sofa phòng khách; Kệ ti vi phòng ngủ; Kệ sách; Két sắt nếu có yêu cầu.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông C phải chịu 8.000.000 (Tám triệu) đồng.
Ông A phải chịu 4.950.000 (Bốn triệu, chín trăm năm mươi nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.475.000 (Hai triệu, bốn trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng theo biên lai thu số AA/2021/0025715 ngày 13/01/2022 và 4.097.534 (Bốn triệu, không trăm chín mươi bảy nghìn, năm trăm ba mươi bốn) đồng theo biên lai thu số AA/2021/0024380 ngày 04/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự V. Hoàn trả cho ông A số tiền tạm ứng án phí còn lại là 1.622.534 (Một triệu, sáu trăm hai mươi hai nghìn, năm trăm ba mươi bốn) đồng.
4. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông C phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2022/0006287 ngày 18/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự V, Thành phố H, ông Tuấn đã nộp đủ.
Ông A phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0028665 ngày 30/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự V, Thành phố H, ông Tín đã nộp đủ.
Các đương sự thi hành án theo các Điều 2, 6, 7, 7a, 7b, 9 và 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
CÁC THẨM PHÁN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA
PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Phượng Phạm Thị Kim
Mai Thị Mỹ Tiên
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND Tối cao; - TAND cấp cao tại TP.HCM - VKSND TP.HCM; - TAND V; - Chi cục THADS V; - Cục THADS TP. H; - Lưu HS. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Mỹ Tiên |