vanban.org

Bản án 268/2021/HN&GÐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, khoản 4 Ðiều 147; Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ðiểm a khoản 1 Ðiều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Toà án. Về hôn nhân: Xử cho chị Cao Thị Tr được ly hôn Anh Cao Bá Ph. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, khoản 4 Ðiều 147; Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA
Tỉnh Thanh Hóa

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 268/2021/HN&GÐ-ST
Ngày 27/9/2021.
V/v:“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NÝỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lường Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Thăng Long

2. Bà Trịnh Thị Loan

Thư ký phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng – Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hoằng Hóa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 128/2021/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 nãm 2021 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2021/QĐST-HNGÐ ngày 15 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Tạ Thị Tr, Sinh năm 1998. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Nơi ĐKHKTT: xã Ch, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

Địa chỉ hiện nay: thôn 2 Th, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Tr: Ông Lê Đình Ch – Luật sư thuộc Công ty luật TNHH Trí Tài, đoàn Luật sư Tp. Hà Nội. Vắng mặt

2. Bị đơn: Anh Cao Bá Ph, Sinh năm 1996. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ðịa chỉ: thôn Ph, xã Ch, huyện H, tỉnh Thanh Hoá.

Hiện đang chấp hành án tại Trại giam số 5 huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 12/4/2021, bản tự khai ngày 05/7/2021của nguyên đơn chị Tạ Thị Tr thể hiện như sau:

Chị Tạ Thị Tr và Anh Cao Bá Ph kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và được UBND xã Ch cấp Giấy chứng nhận kết hôn năm 2018. Sau khi cưới vợ, thời gian đầu vợ chồng sống với nhau hạnh phúc nhưng sau đó thì mâu thuẫn vợ chồng thường xuyên xảy ra, nguyên nhân mâu thuẫn do anh Phkhông có công việc ổn định nên hai bên thường xuyên cãi nhau. Vì không thể chung sống, nên từ tháng 06 năm 2020 chúng tôi đã ly thân. Hiện nay anh Phđang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam số 5 – huyện Yên Định. Nay chị Tr xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa giải quyết cho chị được ly hôn với Anh Cao Bá Ph.

Về con chung: Vợ chồng chị Tr, có 01 con chung là cháu: Cao Thùy D, sinh ngày 26/8/2019. Hiện nay cháu đang sống ở nhà ông bà ngoại cùng chị Tr. Nay ly hôn chị Tr đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu D.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Tr không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và công nợ: Chị Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do anh Ph đang cải tạo tại Trại giam số 5 – huyện Yên Định nên ngày 07/5/2021 chị Tr có đơn đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ đối với anh Phúc. Ngày 19/7/2021 chị Tr có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải.

Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa đã Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ cho Tòa án nhân dân huyện Yên Định thu thập chứng cứ đối với Anh Cao Bá Ph

Theo bản tự khai ngày 15/9/2021 của bị đơn Anh Cao Bá Ph thể hiện như sau:

Về hôn nhân: Anh Ph và chị Tr kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có Giấy chứng nhận kết hôn do UBND xã Ch cấp. Sau khi cưới vợ chồng sống với nhau hạnh phúc cho đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh Ph phạm tội trong vụ án Trộm cắp tài sản và phải đi chấp hành án, tình cảm vợ chồng phai nhạt dần, vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị Tr xin ly hôn, anh Ph cảm thấy tình cảm dành cho vợ vẫn còn nhưng nếu chị Tr cương quyết ly hôn thì tùy pháp luật giải quyết.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu: Cao Thùy D, sinh ngày 26/8/2019. Hiện nay cháu đang ở với chị Tr. Vợ chồng ly hôn đề nghị Tòa án giao cháu D cho chị Tr nuôi dưỡng và đề nghị tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi chon chung cho anh.

Về tài sản chung và công nợ: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tòa án đã tiến hành xác minh về tình trạng hôn nhân giữa chị Tr và anh Ph tại nơi ở thôn Ph, xã Ch, huyện H, tỉnh Thanh Hóa thể hiện: Anh Cao Bá Ph và chị Tạ Thị Tr kết hôn năm 2018, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ch, sau khi cưới thì chị Tr và anh Ph sống chung với nhau tại thôn Ph, xã Ch, quá trình chung sống, vợ chồng mâu thuẫn như thế nào thì địa phương không nắm rõ, địa phương cũng chưa lần nào phải hòa giải, làm việc hay góp ý gì với chị Tr, anh Ph. Sau khi anh Ph đi chấp hành án tại Trại giam thì chị Tr đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở xã Đ sinh sống. Nay chị Tr có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Anh Phúc, chị Tr có 01 con chung là cháu: Cao Thùy D, sinh ngày 26/8/2019. Anh chị ly hôn thì việc giao con cho ai nuôi phải đảm bảo cho cháu đủ điều kiện sống và phát triển. Địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Do chị Tr có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, anh Ph đang chấp hành án, Tòa án không tiến hành hòa giải mà đưa vụ án ra xét xử.

* Quan điểm của Đại diện VKS tham gia phiên tòa:

+ Về tố tụng: Việc thụ lý vụ án của Tòa án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng, thực hiện đúng quy định về thủ tục lấy lời khai, tiến hành công khai chứng cứ, đảm bảo đúng các thủ tục tố tụng khác. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: các bên đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ, đúng trình tự tố tụng.

+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét:

Về hôn nhân: Đề nghị HĐXX xử cho chị Tạ Thị Tr được ly hôn Anh Cao Bá Ph.

Về con chung: Đề nghị HĐXX giao cháu Cao Thùy D, sinh ngày 26/8/2019 cho chị Tr trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; Anh Ph có quyền, nghĩa vụ qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Tr không yêu cầu anh Phcấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị không xem xét.

Về án phí: Chị Tr phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Tại phiên tòa nguyên đơn không có sự thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ về yêu cầu khởi kiện và các bên không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Do Anh Cao Bá Ph đang chấp hành án tại Trại Giam số 5 – huyện Yên Định nên anh Phcó đơn đề nghị vắng mặt tại tất cả các buổi hòa giải, công khai chứng cứ và phiên tòa. Chị Tr có đơn từ chối hòa giải và đề nghị Tòa xét xử vắng mặt. Tòa án căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét vắng mặt chị Tr và anh Phúc.

. Về hôn nhân: Chị Tạ Thị Tr và Anh Cao Bá Ph kết hôn trên cơ sở tự nguyện được Uỷ ban nhân dân xã Ch, huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn, như vậy về hôn nhân giữa chị Tr và anh Ph là hôn nhân hợp pháp.

Theo chị Tr và anh Ph sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc cho đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh Phphạm tội Trộm cắp tài sản và phải đi chấp hành án tại Trại giam số 5 – huyện Yên Định. Do sống ly thân mỗi người một nơi, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Anh Ph vẫn còn tình cảm với với chị Tr nhưng chị Tr xét thấy tình cảm không còn nên cương quyết xin ly hôn.

Xét thấy cả chị Tr và anh Ph đều thừa nhận vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ khi anh Phcó hành vi trộm cắp tài sản bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 04 năm tù và phải đi chấp hành án, chị Tr xét thấy không còn tình cảm với anh Phnữa, thời gian chấp hành án của anh Ph còn dài, tình trạng hôn nhân của chị Tr và anh Ph là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần giải quyết cho vợ chồng được ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật và tình trạng hôn nhân hiện nay.

Về con: Chị Tạ Thị Tr và Anh Cao Bá Ph có 01 con chung là cháu Cao Thùy D, sinh ngày 26/8/2019. Hiên nay cháu đang ở cùng mẹ, chị Trg đề nghị được nuôi cháu Dương, anh Ph cũng đề nghị giao cháu D cho chị Tr trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Tr không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng nuôi con chung, anh Ph đề nghị hoãn việc cấp dưỡng nuôi chung cho anh vì anh đang phải đi cải tạo.

Xét thấy hiện nay anh Ph đang chấp hành án, hiện nay chị Tr đang là người trực tiếp nuôi cháu D nên cần chấp nhận đề nghị của chị Tr và anh Ph là giao cháu Cao Thùy D cho chị Tr trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Tr không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Về tài sản: Hai bên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Cao Thị Tr là nguyên đơn trong vụ án nên buộc chị Tr phải chịu án phí dân sự hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, khoản 4 Ðiều 147; Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Ðiểm a khoản 1 Ðiều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Toà án.

Xử:

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Cao Thị Tr được ly hôn Anh Cao Bá Ph.

2. Về nuôi con chung:

Công nhận vợ chồng chị Tr, anh Ph có 01 con chung là cháu Cao Thùy D sinh ngày 26/8/2019.

Giao cháu Cao Thùy D cho chị Cao Thị Trang trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Ph có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Tr không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

3. Về tài sản: Hai bên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị Cao Thị Trang phải chịu 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số: AA/2019/0010371 ngày 22/4/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa (Chị Tr đã nộp đủ).

5. Về quyền kháng cáo: Chị Tr, anh Phcó quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ