vanban.org

Bản án 268/2019/HSST — Hình sự

TAND Q. Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 13/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T ph m tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 12 ( mười hai) tháng tù. Thời h n tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Trường - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T ph m tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NAM TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:268 /2019/HSST
Ngày: 13/11/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Thanh

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Bá Huynh

Ông Nguyễn Văn Chiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Dáng Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2019 t i Tr s Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số 296/2019/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 293/2019/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân T, sinh năm 1989; Đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ : thôn L, xã V huyện T tỉnh Bắc Ninh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình C và bà Nguyễn Thị T; Có 03 anh chị em bị cáo là con thứ 3; vợ: Cao thị H; con: Nguyễn Duy A sinh năm 2015.

Tiền án tiền sự: 05 tiền án.

+ Ngày 20/08/2009 Tòa án nhân dân quận Long Biên Thành phố Hà Nội xử ph t 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá: 16.645.000 đồng). Ra tr i ngày: 18/05/2010 ( chưa được xóa án tích).

+ Ngày 09/11/2010 Tòa án nhân dân quận Hà Đông Thành phố Hà Nội xử ph t 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá: 400.000 đồng). Ra tr i ngày: 26/04/2011 ( chưa được xóa án tích).

+ Ngày 14/05/2012 Tòa án nhân dân quận Đống Đa Thành phố Hà Nội xử ph t 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (ph m tội chưa đ t chưa lấy được tài sản). Ra tr i ngày: 20/10/2012 (chưa được xóa án tích).

+ Ngày 09/04/2013 Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm Thành phố Hà Nội xử ph t 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá: 12.200.000 đồng). Ra tr i ngày 28/06/2014 (chưa được xóa án tích).

+ Ngày 16/6/2016 Tòa án nhân dân quận Đống Đa Thành phố Hà Nội xử ph t 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá: 2.000.000 đồng). Ra tr i ngày: 24/05/2018 (chưa được xóa án tích).

Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 07/10/2019

Bị cáo t i ngo i. Bị cáo có mặt t i phiên tòa;

Những người bị hại:

+ Anh Trần Văn B sinh năm 1980 ;

+ Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1984.

Cùng ĐKNKTT và chỗ : Đội 2 xã Hải Nam huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định.( Anh B, chị H đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Khoảng 0 giờ 10 phút ngày 16/06/2019, Nguyễn Xuân T đi bộ lang thang trên địa bàn phường Mỹ Đình 2 quận Nam Từ Liêm thành phố Hà Nội m c đích để tìm nơi sơ h để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 02 giờ Trường đi đến số nhà 46 ngách 52/25 đường Mỹ Đình phường Mỹ Đình 2 quận Nam Từ Liêm thành phố Hà Nội thì phát hiện nhà đang xây dựng chưa lắp cửa ra vào nên đã đi vào để trộm cắp tài sản Trường vào nhà thấy vợ chồng Anh Trần Văn B sinh năm 1980 cùng vợ là Chị Đỗ Thị H sinh năm 1984 đều có HKTT và chỗ : Đội 2 xã H huyện H tỉnh N đang ngủ nên đã tiến l i gần và trộm cắp chiếc túi xách nữ giả da của chị H để phía cuối giường đem ra cách giường khoảng 02 mét T dốc đổ toàn bộ tài sản trong túi xuống nền nhà thì thấy chiếc ví giả da màu đen của Anh B rơi ra ngoài nên đã l c soát ví lấy 30.000 đồng 01 đồng tiền 5 xu và 01 dây chuyền kim lo i màu vàng cất vào túi quần sóoc đang mặc rồi vứt l i chiếc ví và đi ra ngoài. Khi ra đến cửa thì T phát hiện thấy 01 chiếc điện tho i di động lo i màn hình cảm ứng màu xanh vỏ ốp màu trắng (không rõ nhãn hiệu thông số kỹ thuật) dưới đất bên trái cửa ra vào nên Trường lấy luôn chiếc điện tho i và bỏ đi. Trên đường đi Trường kiểm tra thấy đồng tiền 5 xu giá trị thấp dây chuyền kim lo i màu vàng là đồ mỹ ký đã có vết rỉ ố màu đen nên đã vứt bỏ đồng xu và dây chuyền ven đường. T đi bộ đến ngã ba chợ Phú Mỹ phường Mỹ Đình 2 quận Nam Từ Liêm thành phố Hà Nội thì thuê một nam thanh niên lái xe ôm ( hiện không rõ nhân thân lai lịch) ch đến khu vực bến xe Mỹ Đình. Khi đến bến xe Mỹ Đình do không đủ tiền trả xe ôm nên T đã bán chiếc điện tho i di động trộm cắp được cho nam thanh niên lái xe ôm với giá 1.000.000 (một triệu) đồng nam thanh niên đã trừ 50.000 đồng tiền công ch nên chỉ đưa cho T 950.000 đồng. Số tiền 30.000 đồng có được từ việc trộm cắp và 950.000 đồng có được từ việc bán điện tho i T đã chi tiêu cá nhân hết. Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 19/06/2019 khi đang đi bộ một mình t i ngõ 63/120 đường Lê Đức Thọ thì bị tổ công tác Công an phường Mỹ Đình 2 đang làm nhiệm v tiến hành kiểm tra hành chính và đưa về tr s để làm rõ.

T i cơ quan Công an, T đã tự thú và khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên.

Ngày 19/06/2019 và 26/08/2019 Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải T đã xác định địa điểm trộm cắp tài sản địa điểm vứt tài sản nhưng không xác định và thu giữ được tang vật.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 355 ngày 30 tháng 08 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận Nam Từ Liêm, kết luận: 01 dây chuyền kim loại màu vàng ( không rõ trọng lượng, tỷ lệ thành phần kim loại, không thu được tang vật): Không đủ cơ sở định giá; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng màu xanh, ốp lưng màu trắng (không rõ nhãn hiệu, thông số kỹ thuật, không thu được tang vật): Không đủ cơ sở định giá.

Đối với chiếc điện tho i di động màn hình cảm ứng màu xanh ốp lưng màu trắng T khai trộm cắp vào ngày 16/06/2019 t i số nhà 46 ngách 52/25 đường Mỹ Đình phường Mỹ Đình 2 quận Nam Từ Liêm thành phố Hà Nội. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm người bị h i nhưng không xác định được nên không có căn cứ để kết luận và xử lý.

Về dân sự: Nguyễn Xuân T đã bồi thường khắc ph c trả cho Anh Trần Văn B số tiền 30.000 đồng và bồi thường 70.000 đồng đối với 01 đồng tiền 5 xu và 01 dây chuyền bị mất. Anh B, chị H đều không có yêu cầu gì về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình ph t cho Trường.

T i bản cáo tr ng số 308/CT-VKS ngày 30/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định t i điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

T i phiên toà bị cáo Nguyễn Xuân T khai nhận hành vi của mình thành khẩn nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo.

Đ i diện Viện kiểm sát giữ quan điểm như cáo tr ng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b s khoản 1 Điều 51; điểm h Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử ph t bị cáo Nguyễn Xuân T từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về dân sự: Những người bị h i đều không có yêu cầu gì nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi quyết định tố t ng của Điều tra viên Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố xét xử: xét thấy Điều tra viên Kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ t c tố t ng theo quy định của pháp luật. Các hành vi quyết định tố t ng đều hợp pháp đảm bảo việc điều tra truy tố v án đúng quy định. Quá trình điều tra và t i phiên tòa bị cáo người bị h i không khiếu n i gì về hành vi quyết định của những người tiến hành tố t ng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hành vi ph m tội của bị cáo: T i phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi ph m tội như Cáo tr ng truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo t i phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo t i cơ quan điều tra phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng kết luận định giá tài sản phù hợp với lời khai của người bị h i cùng các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ v án có đủ cơ s để kết luận: Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 16/6/2019, t i nhà số 46 ngách 52/25 đường Mỹ Đình phường Mỹ Đình 2 quận Nam Từ Liêm thành phố Hà Nội Nguyễn Xuân T đã lợi d ng sơ h lén lút thực hiện hành vi trộm cắp số tiền 30.000 đồng cùng 01 đồng tiền 5 xu và 01 dây chuyền mỹ ký kim lo i màu vàng (không xác định được giá trị) của Anh Trần Văn B .

Hành vi cña bÞ c¸o Trường ®· xâm ph m đến quyền s hữu tài sản của người khác làm mÊt trËt tự trị an xã hội t i địa phương nên cần phải có hình ph t nghiêm để giáo d c bị cáo tr thành người tốt và phòng ngừa chung. Do vậy hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định t i điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định t i điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ phù hợp quy định của pháp luật.

Đánh giá về nhân thân các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 05 tiền án: Ngày 20/08/2009 Tòa án nhân dân quận Long Biên Thành phố Hà Nội xử ph t 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá: 16.645.000 đồng). Ra tr i ngày: 18/05/2010 - chưa được xóa án tích. Ngày 09/11/2010 Tòa án nhân dân quận Hà Đông Thành phố Hà Nội xử ph t 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá: 400.000 đồng). Ra tr i ngày: 26/04/2011 - chưa được xóa án tích. Ngày 14/05/2012 Tòa án nhân dân quận Đống Đa Thành phố Hà Nội xử ph t 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (ph m tội chưa đ t chưa lấy được tài sản). Ra tr i ngày: 20/10/2012 - chưa được xóa án tích. Ngày 09/04/2013 Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm Thành phố Hà Nội xử ph t 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá: 12.200.000 đồng). Ra tr i ngày 28/06/2014 - chưa được xóa án tích. Ngày 16/06/2016 Tòa án nhân dân quận Đống Đa Thành phố Hà Nội xử ph t 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá: 2.000.000 đồng). Ra tr i ngày: 24/05/2018 chưa được xóa án tích. Bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh ngiệm cho bản thân mà l i tiếp t c ph m tội mặc dù lần ph m tội này của bị cáo với số tiền trộm cắp không lớn nhưng bản án trước là yếu tố định tội của lần ph m tội này nên không coi là tình tiết tăng nặng được quy định t i khoản 2 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy cần phải có hình ph t nghiêm khắc đối với bị cáo cách ly bị báo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có giáo d c tr thành người tốt. Tuy nhiên t i phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải bị cáo đã khắc ph c hậu quả người bị h i có đơn xin giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo. Do vậy bị cáo được hư ng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i điểm b s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi ph m tội nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích trên thì phải áp d ng hình ph t tù có thời h n trong khung hình ph t được quy định t i điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm dân sự: Những người bị h i Anh Trần Văn B, Chị Đỗ Thị H đều không yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hình ph t bổ sung: Xét bị cáo Nguyễn Xuân T là lao động tự do không có thu nhập ổn định nên không áp d ng hình ph t bổ sung đối với bị cáo.

Về đề nghị của Viện kiểm sát đối với v án: T i phiên tòa Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đề nghị Hội đồng xét xử tuyên ph t bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù là phù hợp với tính chất mức độ hành vi ph m tội.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo những người bị h i có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm b Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điểm b s khoản 1 Điều 51 khoản 2 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015;

- Điều 331 Điều136 Điều 333 Bộ luật Tố t ng hình sự 2015;

- Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T ph m tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 12 ( mười hai) tháng tù. Thời h n tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người bị h i vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong h n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ