vanban.org

Bản án 268/2015/HSST — Hình sự

TAND Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 21/12/2015 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn S phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt Bùi Văn S 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2015. Buộc bị cáo phải truy nộp số tiền 500.000đ thu lợi bất chính để sung công quỹ Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số 268 ngày 21/12/2015 về tội Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn S phạm tội “Cướp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 133 Bộ luật Hình sự; Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BẮC TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 268/2015/HSST
Ngày: 21/12/2015

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tống Quốc Thanh

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Văn Tính

Bà Hồ Thị Việt Hòa

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Huyền Trang- Cán bộ Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên toà: Bà Bùi Bích Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 21/12/2015, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 304/2015/HSST, ngày 27/11/2015 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn S, sinh năm 1974; ĐKNKTT: huyện TL, tỉnh B; Nơi ở trước khi bị bắt: Cổ Nhuế 1, Bắc Từ Liêm, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Bố: Bùi Văn D, SN 1962; Mẹ: Bùi Thị V, SN 1964; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba. Tiền sự: Năm 2013, Công an xã Đông Lai, Tân Lạc, Hòa Bình xử phạt hành chính hình thức cảnh cáo Bùi Văn S về hành vi gây rối trật tự công cộng (Đã hết thời hiệu). Tiền án: Không. Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giam từ ngày 18/8/2015 tại Trại tạm giam số I - Công an TP Hà Nội, số giam: 4340H1/buồng 9. Danh chỉ bản số 494, lập ngày 26/8/2015.

Người bị hại: Anh Lưu Văn C - SN 1985; ĐKHKTT và trú tại: Huyện TY, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Phạm Văn Hg - SN 1983; Trú tại: Xã V, huyện Tg, tỉnh VP(Vắng mặt tại phiên tòa).

2. Bùi Văn L (SN 1994; Trú tại: Đ, TL, Hòa Bình).

3. Bùi Văn Th (SN 1995; Trú tại: Đ, TL, Hòa Bình).

NHẬN THẤY

Bị cáo Bùi Văn S bị Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Ngày 08/8/2015, Công an phường Xuân Tảo – Công an quận Bắc Từ Liêm nhận được đơn của anh Lưu Văn C trình báo về việc khoảng 21h00’ ngày 07/8/2015 tại khu dự án Tây Hồ Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, anh C bị 04 thanh niên dùng chân tay không đấm đá vào người và dùng một viên bê tông đập vào vai rồi cướp đi 01 điện thoại di động nhãn hiệu LG L70 màu đen.

Sau khi có đơn trình báo của anh Lưu Văn C, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Bắc Từ Liêm tiến hành rà soát (thông qua chức năng định vị của điện thoại), đến ngày 18/8/2015 thì bắt khẩn cấp đối với Bùi Văn S.

Qua điều tra xác định:

Khoảng 19h ngày 07/8/2015, Bùi Văn S, Bùi Văn L, Bùi Văn Th và Ph (chưa xác định nhân thân lai lịch) đều là công nhân xây dựng tòa nhà CT2B, khu đô thị Nghĩa Đô, Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội rủ nhau đi uống rượu. Khoảng 20 phút sau, S, L và Phc đi bộ sang công trường dự án Tây Hồ Tây thuộc địa phận phường Xuân Tảo, Bắc Từ Liêm, Hà Nội đi vệ sinh thì gặp chị Bùi Thị B (SN 1990, NKTT: Tân Lập, Lạc Sơn, Hòa Bình) và anh Lưu Văn C cũng đang dạo. L đi đến trêu chị Bảo bằng tiếng dân tộc Mường “chị có đi chơi với em không, chị có thích em không, thanh niên kia là ai?”, chị Bảo trả lời bằng tiếng dân tộc Mường “người cùng quê mình” rồi tất cả quay về lán thì gặp Th. Lúc này, L nói với nhóm S “Anh ơi, thằng này nó ngang lắm, xử nó hộ em” (ý L muốn nhóm S đánh anh C) thì S, Th, Phc đồng ý. Sau đó tất cả chui qua hàng rào tôn của công trường đến chỗ chị Bảo, anh C đang đứng thì Th cởi áo trùm lên đầu, xông đến dùng chân tay đấm đá anh C, anh C bỏ chạy ngã vào đống cát. Nhóm S đuổi theo, S bẻ quặt tay anh C ra đằng sau giữ cho L, Th, Phc đấm đá vào đầu, anh C. Sau đó, Th nhặt viên cục bê tông ở công trường đập vào vai bên trái anh C, rồi tất cả cùng tiếp tục đấm đá anh C đến khi chị Bảo gọi mọi người trong công trường ra can ngăn. Thấy vậy, Th, Phc, L bỏ chạy trước, S buông tay, anh C ngã gục xuống đất. Khi anh C ngã, S thấy chiếc điện thoại của anh C rơi ra nên nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại trên nên đã nhặt lên và đút vào túi áo ngực rồi bỏ chạy về khu vực bến xe Nam Thăng Long, tháo, vứt sim điện thoại dọc đường. Ngày 08/8/2015, S mang chiếc điện thoại di động LG L70 đến cửa hàng sửa chữa điện thoại Hg Mobile số 3 ngõ 29 Dịch Vọng, Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội do anh Lê Ngọc H (SN 1993, NKTT: Thiệu Phúc, Thiệu Hóa, Thanh Hóa) làm chủ bán cho anh Phạm Văn H – bạn anh Hg đến chơi) được 500.000đ. Sau đó, S mua của anh Hg 01 điện thoại Viettel màu nâu, 01 sim điện thoại giá 300.000đ rồi bỏ trốn vào Cửa Lò, Nghệ An đến ngày 18/8/2015 thì bị bắt giữ.

Anh C được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện 198 – Bộ Công an. Biên bản xác minh thương tích ban đầu ngày 09/8/2015 tại Bệnh viện 198 – Bộ Công an, thể hiện thương tích của anh Lưu Văn C: Bệnh nhân vào viện tỉnh táo, Glatgow 15 điểm kèm theo bị đau đầu, ngực, tim, phổi bình thường, bụng mềm không đau. Vận động chân tay bình thường. Chụp xiti (CT), sọ não, XQ chưa phát hiện gì bất thường.

Ngày 10/9/2015, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Bắc Từ Liêm đã ra Quyết định số 16 trưng cầu giám định thương tích đối với anh Lưu Văn C. Do đã được điều trị, hiện sức khỏe đã hồi phục nên ngày 15/9/2015, anh C tự nguyện viết đơn từ chối giám định thương tích theo Quyết định trưng cầu số 16 nêu trên.

Đối với Bùi Văn L và Bùi Văn Th, khi đánh anh C cùng S và Phc không nhằm chiếm đoạt điện thoại của anh C cũng không biết việc sau khi đánh S lấy điện thoại của anh C nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý L và Th đồng phạm với S về hành vi Cướp tài sản. Ngày 09/11/2015, Cơ quan Cảnh sát điều tra

- Công an quận Bắc Từ Liêm đã ra Quyết định xử phạt hành chính số tiền 2.500.000đ đối với L và Th về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác theo điểm e khoản 3 Điều 5 Nghị định 167 ngày 12/11/2013 của Chính Phủ.

Về vật chứng:

- Thu giữ của Bùi Văn S: 01 điện thoại di động Viettel màu ghi xám đã qua sử dụng, số imei: 357217052490280;

- Thu giữ của Phạm Văn H: 01 điện thoại di động LG L70 màu đen có số imei: 356248061975251, 356248061975269.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 137 ngày 26/9/2015 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận Bắc Từ Liêm, kết luận: 01 điện thoại di động LG L70 màu đen có số imei: 356248061975251, 356248061975269, đã qua sử dụng, hiện vẫn sử dụng được, trị giá 1.700.000đ.

Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại di động LG L70 màu đen là tài sản của anh Lưu Văn C. Ngày 15/9/2015, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Bắc Từ Liêm trao trả điện thoại trên cho anh C. Anh C đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì về dân sự.

Đối với viên bê tông Th dùng để đánh anh C, sau khi đánh xong, Th vứt lại hiện trường. Quá trình điều tra đã rà soát nhưng không thu giữ được viên bê tông nêu trên.

Đối với đối tượng tên Phc, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch. Vì vậy, ngày 12/11/2015, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Bắc Từ Liêm đã ra Quyết định số 56, tách rút các tài liệu liên quan đến Phc để tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý sau.

Đối với Phạm Văn H, khi mua điện thoại của S, không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Bắc Từ Liêm không xem xét xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 29/10/2015, Bùi Văn L và Bùi Văn Th đã bồi thường cho anh Lưu Văn C 5.000.000đ. Anh C đã nhận số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự; Anh Phạm Văn H cũng không yêu cầu bồi thường về dân sự.

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Văn S khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên.

Tại Bản cáo trạng số 260/CT-VKS ngày 25/11/2015 của Viện kiểm sát nhân dân Quận Bắc Từ Liêm đã truy tố bị cáo Bùi Văn S về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát luận tội: Giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm khoản 1 Điều 133; Điểm p khoản 1; Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự; Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo S mức án từ 36 đến 42 tháng tù.

Về dân sự: Người bị hại, anh Lưu Văn C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – anh Phạm Văn H không có yêu cầu về bồi thường dân sự nên không xét.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo:

XÉT THẤY

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 21 giờ 00’ ngày 07/8/2015, tại công trường khu dự án Tây Hồ Tây thuộc địa bàn phường Xuân Tảo, Bắc Từ Liêm, Hà Nội, Bùi Văn S đã dùng vũ lực, tấn công, anh Lưu Văn C cướp 01 điện thoại di động LG L70 màu đen, trị giá 1.700.000đ. Tài sản đã thu hồi trao trả chủ sở hữu.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Cướp tài sản" được quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Về nhân thân: Bị cáo đã có một tiền sự đã hết thời hiệu, nên Hội đồng xét xử cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cần phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lần đầu bị đưa ra xét xử được quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Số tiền 500.000đ bị cáo bán chiếc điện thoại cho anh Phạm Văn H là tiền thu lời bất chính nên cần buộc bị cáo phải truy nộp để sung công quỹ Nhà nước.

Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu ghi xám, số imei 357217052490280 cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại - anh Lưu Văn C đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường dân sự nên Tòa án không xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Văn H không có yêu cầu bồi thường về dân sự nên Tòa án không xét.

Các đối tượng Bùi Văn L, Bùi Văn Th khi đánh anh C không nhằm chiếm đoạt tài sản, khi Bùi Văn S chiếm đoạt điện thoại của anh C các đối tượng trên không biết và đã bị cơ quan điều tra xử lý hành chính đúng quy định pháp luật nên Tòa án không xét.

Đối tượng Phc cơ quan điều tra đã tách, rút các tài liệu có liên quan để điều tra xử lý sau nên Tòa không xem xét.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn S phạm tội “Cướp tài sản”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 133; Điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự

Xử phạt Bùi Văn S 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2015.

Buộc bị cáo phải truy nộp số tiền 500.000đ thu lợi bất chính để sung công quỹ Nhà nước.

2. Về dân sự: Người bị hại và người liên quan không yêu cầu bồi thường về dân sự nên Tòa không xét.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Trả lại cho bị cáo Bùi Văn S 01 điện thoại di động Viettel màu ghi xám, số imei 357217052490280, đã qua sử dụng (Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/11/2015).

4. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 98, khoản 2 Điều 99, Điều 231, Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 22 Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án năm 2009:

Bị cáo Bùi Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Người bị hại, người liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận được bản án.

Cỡ chữ