vanban.org

Bản án 2673/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật phí và lệ phí năm 2015.

Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp dân sự"
  • Tòa quyết gì? Luật phí và lệ phí năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐTHỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒCHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 2673/2021/DS-ST.
Ngày: 28/12/2021.
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc Thịnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Chu Mạnh Tường.

2. Bà Nguyễn Thị Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Giang – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Võ Cao Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 328/2020/TLST-DS, ngày 01/10/2020 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4796/2021/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 11 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5765/2021/QĐST -DS ngày 30 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại A.

Địa chỉ: Số 130 Phan Đăng L, Phường 3, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lương Thị M S, sinh năm 1978.

Văn bản ủy quyền ngày 02/7/2020.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đăng N, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Căn hộ 11 Chung cư Mỹ A, Đường N, Khu phố 4, phường H, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Bà Lương Thị M S xin vắng mặt, ông Nguyễn Đăng N vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ghi ngày 02/7/2020, Bản tự khai, Biên bản không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn - Ngân hàng A (sau đây gọi là Ngân hàng A) có bà Lương Thị M S là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ông Nguyễn Đăng N ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng A – Chi nhánh Phú N như sau: Tổng hạn mức cấp tín dụng: 30.000.000 đồng theo giấy đăng ký sử dụng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ Ngân hàng A ngày 30/01/2010 bao gồm những khoản sau:

- Lãi suất:

1,4%/tháng.

- Thời hạn vay:

12 tháng.

- Mục đích vay:

Tiêu dùng.

Biện pháp đảm bảo:

Tín chấp theo lương.

Do ông N vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên từ ngày 30/11/2010, Ngân hàng A đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn. Tạm tính đến ngày 28/12/2021, ông N còn nợ các khoản như sau:

- Vốn gốc:

14.673.021 đồng.

- Lãi quá hạn:

48.015.221 đồng.

- Phí thường niên đang treo: 600.000 đồng

- Tổng cộng:

63.248.242 đồng.

Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, có nộp bản tự khai và đơn xin rút 01 phần yêu cầu khởi kiện. Nay yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Đăng N trả cho Ngân hàng Atổng số nợ còn thiếu tạm tính đến ngày 28/12/2021 là: 63.248.242 đồng. Ông Nguyễn Đăng N còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 29/12/2021 cho đến khi trả hết số tiền nêu trên, theo giấy đăng ký sử dụng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ mà ông N ký với Ngân hàng Đông Á. Ngân hàng A xác định chỉ yêu cầu cá nhân ông Nguyễn Đăng N trả khoản nợ trên, không liên quan người khác.

Rút lại phần yêu cầu khởi kiện là: Ông Nguyễn Đăng N phải chịu mọi chi phí phát sinh và phí chậm thi hành án (nếu có).

Quá trình tiến hành tố tụng: Bị đơn – ông Nguyễn Đăng N không đến làm việc theo giấy triệu tập và thông báo của Tòa án. Tòa án đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông N vẫn vắng mặt không có lý do, không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu: Các trình tự, thủ tục đều tuân thủ quy định của pháp luật nhưng cần rút kinh nghiệm về thời hạn chuẩn bị xét xử. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Nguyên đơn – Ngân hàng A khởi kiện bị đơn – ông Nguyễn Đăng N tranh chấp hợp đồng vay tài sản, bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Thủ Đức. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin vắng mặt. Bị đơn – ông Nguyễn Đăng N vắng mặt. Căn cứ, Khoản 3 Điều 40 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới”. Khi tham gia giao kết hợp đồng, ông Nguyễn Đăng N ghi địa chỉ tại Căn hộ 11 Chung cư Mỹ A, Đường N , Khu phố 4, phường H, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả xác minh, Công an phường H trả lời: Ông Nguyễn Đăng N có đăng ký hộ khẩu tại Căn hộ 11 Chung cư Mỹ A, Đường N, Khu phố 4, phường H, Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng thực tế không cư ngụ tại địa phương, đương sự N chuyển đi đâu không rõ. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú cuối cùng của ông N để giải quyết vụ án. Căn cứ Khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về thời hiệu khởi kiện: Nguyên đơn và bị đơn đều không có yêu cầu áp dụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về yêu cầu của đương sự:

Hội đồng xét xử nhận định: Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện là: Ông Nguyễn Đăng N phải chịu mọi chi phí phát sinh và phí chậm thi hành án (nếu có) nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có cơ sở xác định, ngày 30/01/2010 ông Nguyễn Đăng N ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng A – Chi nhánh Phú N như sau: Tổng hạn mức cấp tín dụng: 30.000.000 đồng theo giấy đăng ký sử dụng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ Ngân hàng Abao gồm những khoản sau: Lãi suất: 1,4%/tháng; Thời hạn vay: 12 tháng; Mục đích vay: Tiêu dùng; Biện pháp đảm bảo:Tín chấp theo lương.

Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông Nguyễn Đăng N đã không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng A theo thông báo giao dịch hàng tháng. Do đó, ngày 30/11/2010, Ngân hàng A đã chuyển khoản nợ của ông Nguyễn Đăng N sang nợ quá hạn. Xét thấy, các thỏa thuận này hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định pháp luật nên là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch.

Về áp dụng pháp luật: Việc thực hiện giao dịch từ năm 2010 cho đến nay, xét giao dịch này phù hợp với quy định Bộ luật Dân sự năm 2015 theo Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên áp dụng quy định Bộ luật này để giải quyết. Khoản 5 Điều 466 quy định “… a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn “Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự 2005, Bộ luật Dân sự 2015 để xác định lãi, lãi suất”.

Theo Bảng kê tính lãi thấu chi của Ngân hàng A tính đến ngày 28/12/2021 ông N phải trả tiền: Vốn gốc: 14.673.021 đồng; Lãi quá hạn: 48.015.221 đồng. Phí thường niên đang treo: 600.000 đồng. Tổng cộng: 63.248.242 đồng. Căn cứ Khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng thì các tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng. Giấy đăng ký sử dụng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ ngày 30/01/2010 được các bên tự nguyện ký kết, các thỏa thuận không trái quy định pháp luật nên là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Như vậy, việc tính tiền nêu trên của Ngân hàng A đối với ông N là có căn cứ để chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn - Ngân hàng A được chấp nhận nên bị đơn - ông Nguyễn Đăng N phải chịu tiền án phí. Ngân hàng A được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phân tích là có căn cứ và đề nghị phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 244; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

- Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

- Điều 463, 466 và Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Luật phí và lệ phí năm 2015.

- Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Luật thi hành án dân sự.

Xử:

1. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu: Ông Nguyễn Đăng N phải chịu mọi chi phí phát sinh và phí chậm thi hành án (nếu có).

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng A: Buộc ông Nguyễn Đăng N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Đông Á số tiền gồm: Tiền vốn gốc: 14.673.021 đồng; Phí thường niên đang treo: 600.000 đồng; Lãi quá hạn: 48.015.221 đồng; Tổng cộng là 63.248.242 (Sáu mươi ba triệu hai trăm bốn mươi tám nghìn hai trăm bốn mươi hai) đồng.

Ông Nguyễn Đăng N còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 29/12/2021 cho đến khi trả hết số tiền nêu trên, theo giấy đăng ký sử dụng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ mà ông N ký với Ngân hàng A.

3. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 3.162.412 (Ba triệu một trăm sáu mươi hai nghìn bốn trăm mười hai) đồng ông Nguyễn Đăng N phải chịu, ông N chưa nộp tiền án phí.

Ngân hàng TMCP Đông Á được nhận lại tiền tạm ứng án phí 1.178.301 (Một triệu một trăm bảy mươi tám nghìn ba trăm lẻ một) đồng theo Biên lai thu số AA/2019/0057818 ngày 01/10/2020 do Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức) lập.

4. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng A và ông Nguyễn Đăng N được quyền kháng cáo bản án này đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ