- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc S, Bùi Văn N phạm tội Tham ô tài sản - phạm tội tham ô tài sản (điều 353 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S, Bùi Văn N phạm tội Tham ô tài sản
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP BẮC NINH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 267 /2024/HSST Ngày 05/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Bà Hoàng Thị Ngọc Anh; Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Lưu; Ông Trịnh Hồng Hải . - Thư ký phiên toà:Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy,Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Ngày 05/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 267/2024/HSST ngày 07/8/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 264 /2024/QĐXXST-HS ngày 23/8/2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1977; Tên gọi khác: Không; HKTT: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh H; Dân tộc: Mường; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Bố là; Nguyễn Bá C (đã chết); Mẹ là: Nguyễn Thị X, sinh năm 1954; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Lê Phương D, sinh năm 1973; Con: có 01 con, sinh năm 2002
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/4/2024 đến ngày 26/4/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
2. Bùi Văn N, sinh năm 1995; Tên gọi khác: Không; HKTT: Xóm B, xã Đ, huyện L, tỉnh H; Dân tộc: Mường; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân ; Trình độ học vấn: 09/12; Bố là: Bùi Văn N, sinh năm 1971; Mẹ là: Bùi Thị K, sinh năm 1970; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Bùi Thị T, sinh năm 1996; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2023
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/4/2024 đến ngày 26/4/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Công ty TNHH F
Địa chỉ: Lô G2, KCN Q, phường N, thành phố B, tỉnh B.
Đại diện theo pháp luật: ông S– Tổng giám đốc
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lee Sung Y– Trưởng phòng nhân sự (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Ngọc S ký hợp đồng lao động số 00200/2021/HĐLĐ ngày 01/5/2021 và Bùi Văn N ký hợp đồng lao động số 02528/2021/HĐLĐ ngày 01/12/2021 với Công ty TNHH F. Sơn được giám đốc công ty quyết định giữ chức vụ là Quản lý kỹ thuật điện, Nhinh là nhân viên kỹ thuật điện thuộc quyền quản lý của Sơn. Khoảng tháng 01/2024, Sơn được Công ty phân công nhiệm vụ quản lý thiết bị điện, đường điện, máy nén khí, giám sát và báo cáo nghiệm thu hạng mục thi công máy nén khí, đối với nguyên vật liệu thừa thì thu gom về kho và quản lý. Nếu muốn thanh lý thì phải làm đề nghị, công ty đồng ý cho bán thì bộ phận hành chính làm thủ tục. Nhinh được Sơn phân công nhiệm vụ sửa chữa điện và thực hiện các công việc dưới sự chỉ đạo của Sơn. Trong quá trình giám sát hạng mục thi công máy nén khí, Sơn nhận thấy sau mỗi ngày thi công đều có những đoạn dây cáp điện còn thừa, Sơn nảy sinh ý định chiếm đoạt số cáp điện này để bán lấy tiền tiêu sài. Khoảng đầu tháng 4/2024, Sơn chỉ đạo cho Nhinh cùng với Đinh Dũng Trí, sinh năm 1989, HKTT: khu Thái Bảo, phường Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Tiến Đông, sinh năm 1994, HKTT: thôn Đức Tái, xã Chi Lăng, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh và Lê Văn Tuấn, sinh năm 1997, HKTT: thôn Đông Thành, xã Hợp Lí, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa (Trí, Đông và Tuấn là nhân viên trong tổ của Sơn) nhặt các đoạn dây cáp điện sau quá trình thi công, lắp đặt máy nén khí còn thừa về kho chứa dụng cụ điện. Sau đó, Sơn chỉ đạo, bàn bạc với Nhinh tách các đoạn dây cáp điện này thành các đoạn dài khoảng 20-40cm để lấy lõi đồng mang bán lấy tiền, Nhinh biết đây là tài sản của công ty, Sơn không được phép bán nhưng Nhinh vẫn đồng ý. Hàng ngày, sau khi hết ca làm việc, Nhinh ở lại kho tách các đoạn cáp điện lấy lõi đồng và để vào các thùng cacton, cất trong kho cơ điện. Ngày 18/4/2024, thấy lượng lõi đồng đã được nhiều, Sơn hỏi Nhinh có quen người nào mua phế liệu không thì gọi vào bán số lõi đồng trên. Nhinh gọi điện thoại cho Phan Văn Khánh, sinh năm 1990, HKTT: thôn Thu Thủy, xã Xuân Thu, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, làm nghề mua phế liệu và chờ đồ thuê, Nhinh với khánh thỏa thuận 170đ/ kg. Khánh không biết số đồng này do Nhinh phạm tội mà có.
Khoảng 16 giờ cùng ngày, Nhinh đến xưởng Blast của Công ty TNHH F lấy 01 cặp sơn Epoxy/ Epoxy Floor Coat Grey ET5660-A-D80680, nhãn hiệu KCC Paint, thể tích 10,7 lít kèm theo thùng chất đóng rắn/ Epoxy Floor Coat Curing Agent Et5660-B, nhãn hiệu KCC Paint, thể tích 5,3l của công ty mang về kho cơ điện cất ( cặp sơn này không thuộc quyền quản lý của Sơn và Ninh). Nhinh nói với Sơn về việc mình đã trộm cắp cặp sơn và nhờ Sơn viết vào phiếu xuất kho để mang ra khỏi công ty, Sơn đồng ý, đồng thời, Sơn còn lấy 02 (hai) chiếc quạt đảo trần (quạt điện treo tường) nhãn hiệu Điện cơ 91 Bộ quốc phòng ở trong kho mà công ty giao cho Sơn quản lý để cùng mang ra ngoài bán. Khoảng 17 giờ 15 phút, Khánh điều khiển xe ô tô tải, BKS: 20C – 224.10 đến Công ty TNHH F, Nhinh dặn Khánh đăng ký với bảo vệ công ty là người của Công ty MCC đến lấy lọc dầu đi đổi. Khánh nghĩ rằng phải đăng ký xe như vậy thì mới được vào công ty nên làm theo, Khánh điều khiển xe vào kho chứa dụng cụ điện để bốc hàng. Tại kho, Sơn cùng Nhinh và Trí bốc 06 thùng cacton bên trong chứa lõi đồng, 02 (hai) chiếc quạt đảo trần (quạt điện treo tường) nhãn hiệu Điện cơ 91 Bộ quốc phòng và 01 (một) cặp sơn Epoxy/ Epoxy Floor Coat Grey ET5660-A-D80680, nhãn hiệu KCC Paint, thể tích 10,7 lít kèm theo thùng chất đóng rắn/ Epoxy Floor Coat Curing Agent Et5660-B, nhãn hiệu KCC Paint, thể tích 5,3l lên xe. Để hợp lý hóa việc xuất hàng ra khỏi công ty, Sơn đã viết phiếu xuất kho với nội dung: 04 lọc tách dầu máy nén khí, 02 sơn, 02 sơn nền và 02 quạt đảo trần để phù hợp với số hàng trên xe. Sau khi bốc hàng xong, Nhinh đưa Khánh ra cổng bảo vệ và xuất trình phiếu xuất kho cho bảo vệ kiểm tra. Khi lực lượng bảo vệ của công ty kiểm tra, phát hiện số lượng hàng trên xe và phiếu xuất kho không đúng, bảo vệ công ty bóc 06 thùng cacton kiểm tra và phát hiện có lõi đồng mà trong phiếu xuất kho không có nên đã lập biên bản và trình báo lực lượng Công an đồn Khu công nghiệp.
Cùng ngày 18/4/2024, Nguyễn Ngọc S và Bùi Văn N đến Công an đồn Khu công nghiệp đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.
- Tại bản Kết luận định giá tài sản số 118/KL-HĐĐGTS ngày 22/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND thành phố Bắc Ninh kết luận:
- 240 kg dây đồng được cắt thành từng đoạn dài 20 – 40cm trị giá 40.800.000 đồng.
- 02 chiếc quạt đảo trần (quạt điện treo tường) nhãn hiệu Điện cơ 91 Bộ quốc phòng (đã qua sử dụng) trị giá 250.000 đồng.
- 01 cặp sơn Epoxy/ Epoxy Floor Coat Grey ET5660-A-D80680, nhãn hiệu KCC Paint, thể tích 10,7 lít kèm theo thùng chất đóng rắn/ Epoxy Floor Coat Curing Agent Et5660-B, nhãn hiệu KCC Paint, thể tích 5,3l (chưa qua sử dụng)” trị giá 1.820.000 đồng
*Về vật chứng và đồ vật, tài liệu liên quan:
- Ngày 19/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh thu giữ “01 USB màu đen lưu giữ 07 video được trích xuất từ camera an ninh ghi lại hình ảnh Sơn và Nhinh tham ô và trộm cắp tài sản tại Công ty TNHH F”.
- Tại Bản kết luận giám định số 1656/KL-KTHS ngày 09/7/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 07 tệp video gửi giám định”.
- Ngày 18/4/2024, lực lượng bảo vệ Công ty TNHH F giao nộp cho CQĐT:
+ 240 kg dây đồng được cắt thành từng đoạn dài 20 – 40cm; 02 chiếc quạt đảo trần (quạt điện treo tường) nhãn hiệu Điện cơ 91 Bộ quốc phòng (đã qua sử dụng); 01 cặp sơn Epoxy/ Epoxy Floor Coat Grey ET5660-A-D80680, nhãn hiệu KCC Paint, thể tích 10,7 lít kèm theo thùng chất đóng rắn/ Epoxy Floor Coat Curing Agent Et5660-B, nhãn hiệu KCC Paint, thể tích 5,3l (chưa qua sử dụng) – là những tài sản Sơn và Nhinh chiếm đoạt của công ty;
+ 04 phiếu xuất kho (gồm 04 liên) số 0153978 do Sơn viết ra để hợp thức việc chuyển số tài sản chiếm đoạt ra ngoài công ty;
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S23 Ultra, màu ghi xám, số emei1: 355157583927305, số emei2: 355867883927306 của Nguyễn Ngọc S (không dùng vào việc phạm tội);
+ 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Zflip 4, màu xám, số emei: 35969783171205 của Bùi Văn N (có sử dụng vào hành vi phạm tội);
Cáo trạng số 197 /CT - VKSNDTPBN ngày 06/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố Nguyễn Ngọc S, Bùi Văn N phạm tội Tham ô tài sản theo Khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Ngọc S, Bùi Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích tính chất, nội dung hành vi phạm tội của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Bùi Văn N phạm tội Tham ô tài sản
Áp dụng khoản 1, Điều 353; Điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 BLHS xử phạt: Nguyễn Ngọc S từ 30 đến 36 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng. Bùi Văn N từ 26 đến 30 tháng tù. cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 52 đến 60 tháng. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét Về vật chứng: Tịch thu 04 phiếu xuất kho; 01 ổ USB màu đen lưu giữ 07 tệp video được trích xuất từ camera an ninh lưu trong hồ sơ vụ án; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Zflip 4, màu xám, số emei: 35969783171205. Trả lại cho Nguyễn Ngọc S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S23 Ultra, màu ghi xám, số emei1: 355157583927305, số emei2: 355867883927306.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Các bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận gì mà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Ninh, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, Kiểm sát viên: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về chứng cứ buộc tội:
Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, lời khai của đại diện bị hại, vật chứng thu được, 07 tệp video được trích xuất từ camera an ninh ghi lại hình ảnh Sơn và Nhinh tham ô và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện viện kiểm sát, đủ cơ sở kết luận:
Nguyễn Ngọc S là Quản lý kỹ thuật điện và Bùi Văn N là nhân viên kỹ thuật điện của Công ty TNHH F, Sơn được giao nhiệm vụ quản lý thiết bị điện, đường điện, máy nén khí, giám sát và báo cáo nghiệm thu hạng mục thi công máy nén khí, đối với nguyên vật liệu thừa thì thu gom về kho và quản lý.
Ngày 18/4/2024, Nguyễn Ngọc S đã có hành vi chiếm đoạt: 240 kg lõi đồng; 02 chiếc quạt đảo trần (quạt điện treo tường) nhãn hiệu Điện cơ 91 Bộ quốc phòng trị giá 41.050.000 đồng của Công ty TNHH F giao cho Sơn quản lý để bán lấy tiền ăn tiêu. Bùi Văn N biết tài sản trên thuộc sở hữu của công ty nhưng vẫn giúp Sơn thực hiện hành vi chiếm đoạt, cụ thể: tại kho của Công ty TNHH F, Nhinh đã tách cáp điện lấy lõi đồng đi bán, liên hệ với người bán, vận chuyển hàng đi bán theo chỉ đạo của Sơn.
Như vậy, hành vi của các bị cáo đã phạm tội Tham ô tài sản, phạm vào khoản 1, Điều 353 BLHS mà Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ®· x©m ph¹m ®Õn hoạt động đúng đắn của doanh nghiệp đối với việc quản lý tài sản, làm ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp. Do vËy, cÇn ph¶i cã h×nh ph¹t nghiªm kh¾c nh»m gi¸o dôc bÞ c¸o vµ phßng ngõa chung.
Xét về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này, bị cáo Sơn là người khởi sướng và chỉ đạo Nhinh thực hiện nên Sơn giữ vai trò chính, Nhinh giữ vai trò thứ yếu.
Xét về nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi bị phát hiện các bị cáo đã tự nguyện đầu thú. Mặt khác, các bị cáo đều là người dân tộc, sự nhận thức về pháp luật có sự hạn chế. Do vậy, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện giáo dục.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã được thu hồi trả bị hại, bị hại không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Về vật chứng: - Đối với chiếc xe ô tô tải, BKS: 20C – 224.10 mà anh Khánh sử dụng chở tài sản mua của Sơn và Nhinh ra khỏi công ty, là tài sản của anh Khánh, anh Khánh không biết tài sản do Sơn và Nhinh chiếm đoạt là của do Sơn và Nhinh phạm tội mà có nên CQĐT không thu giữ chiếc xe để xem xét là phù hợp. Đối với 240 kg dây đồng được cắt thành từng đoạn dài 20 – 40cm; 02 chiếc quạt đảo trần (quạt điện treo tường) nhãn hiệu Điện cơ 91 Bộ quốc phòng (đã qua sử dụng); 01 cặp sơn Epoxy/ Epoxy Floor Coat Grey ET5660-A-D80680, nhãn hiệu KCC Paint, thể tích 10,7 lít kèm theo thùng chất đóng rắn/ Epoxy Floor Coat Curing Agent Et5660-B, nhãn hiệu KCC Paint, thể tích 5,3l (chưa qua sử dụng), Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Ninh đã trả lại cho Công ty TNHH F là chủ sở hữu hợp pháp nên không xem xét nữa Đối với 01 USB màu đen lưu giữ 07 video được trích xuất từ camera an ninh ghi lại hình ảnh Sơn và Nhinh thực hiện hành vi phạm tội tại Công ty TNHH F, là vật chứng cần lưu theo hồ sơ vụ án. Đối với 04 phiếu xuất kho (gồm 04 niên) số 0153978 là vật chứng cần lưu theo hồ sơ vụ án.
Đối với 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Zflip 4, màu xám, số emei: 35969783171205 thu giữ của Bùi Văn N: Chiếc điện thoại này Nhinh đã sử dụng liên lạc với Khánh để bán tài sản do mình phạm tội mà có nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S23 Ultra, màu ghi xám, số emei1: 355157583927305, số emei2: 355867883927306 thu giữ của Nguyễn Ngọc S, bị cáo Sơn không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Sơn.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là người dân tộc, bị cáo Nhinh thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về án phí: Bị cáo Sơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Bị cáo Nhinh là người dân tộc thiểu số thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí.
Các vấn đề khác:
Đối với Đinh Dũng Trí, Nguyễn Tiến Đông và Lê Văn Tuấn chỉ thu gom dây cáp điện vào kho, không tham gia vào việc tách dây cáp điện để lấy lõi đồng và cũng không biết việc Sơn và Nhinh bán chỗ dây cáp điện để chiếm đoạt nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Ninh không xem xét xử lý là phù hợp.
Đối với Phan Văn Khánh là người mua lõi đồng của Sơn và Nhinh, Khánh không biết rằng đây là tài sản mà Sơn và Nhinh chiếm đoạt của Công ty TNHH F nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Ninh không xử lý là phù hợp.
Đối với hành vi trộm cắp tài sản là 01 cặp sơn của Nguyễn Ngọc S và Bùi Văn N ngày 18/4/2024, do giá trị tài sản dưới 2 triệu đồng, chưa đủ định lượng xử lý hình sự, Sơn và Nhinh chưa có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản. Ngày 09/5/2024, Công an thành phố Bắc Ninh ra Quyết định xử phạm vi phạm hành chính đối với Nguyễn Ngọc S và Bùi Văn N về hành vi "Trộm cắp tài sản", hình thức "Phạt tiền" là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 353; Điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58; Điều 47 BLHS; Điều 106; Điều 331; Điều 333 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/QH ngày 31/12/2016 của Quốc Hội.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S, Bùi Văn N phạm tội Tham ô tài sản
Xử phạt: Nguyễn Ngọc S 34 (ba mươi tư) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bùi Văn N 26 (hai mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 52 (năm mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Ngọc S cho Ủy ban nhân xã Tân Vinh, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình; bị cáo Bùi Văn N cho Ủy ban nhân xã Định Cư, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trưêng hîp thay ®æi n¬i cư tró th× thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i ĐiÒu 92 luËt thi hµnh ¸n h×nh sù. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Zflip 4, màu xám, số emei: 35969783171205.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S23 Ultra, màu ghi xám, số emei1: 355157583927305, số emei2: 355867883927306.
Lưu hồ sơ vụ án 04 phiếu xuất kho (gồm 04 niên) số 0153978; 01 ổ USB gồm 07 tệp video ghi hình ảnh các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.
Bị cáo Nguyễn Ngọc S phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Bùi Văn N được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc niêm yết kết quả bản án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND tỉnh BN - Trại tạm giam CATBN - VKSND thành phố Bắc Ninh; - Cơ quan ĐTCATPBN - Chi cục THADS thành phố Bắc Ninh; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Ngọc Anh |