- Tranh chấp gì? án hình sự — "đoàn phương N - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Phương N;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 15 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 266/2023/HS-PT Ngày 17/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Nam
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Huyền Cường
Bà Đặng Thị Thơm
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thanh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Ông Phạm Ngọc Vỹ, Kiểm sát viên cao cấp;
Ngày 17 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 61/2023/TLPT-HS ngày 01/02/2023 do có kháng cáo của bị cáo Đoàn Phương N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 529/2022/HS-ST ngày 23/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Bị cáo có kháng cáo: Đoàn Phương N, sinh năm 1962; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số nhà 108, phố K, phường H, quận T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 07/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Đoàn Lịch S (đã chết); Con bà: Phạm Thị Đ, sinh năm 1936; Vợ: Dương Thị Hồng T, sinh năm 1970; Con: Có 03 con; lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2009. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Bản án hình sự sơ thẩm số 281/HSST ngày 15/11/1983 của Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội xử phạt Đoàn Phương N 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội Cướp giật tài sản riêng của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều 154 Bộ luật Hình sự năm 1985.
- Bản án hình sự sơ thẩm số 128/HSST ngày 19/9/1986 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt Đoàn Phương N 04 năm tù về tội Cướp tài sản công dân theo quy định tại khoản 1 Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 1985; tổng hợp với hình phạt của Bản án số 281/HSST ngày 15/11/1983, buộc chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05 năm tù.
- Bản án Hình sự sơ thẩm số 268/HSST ngày 11/10/1991 của Toà án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội xử phạt Đoàn Phương N 12 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng theo quy định tại khoản 1 Điều 198 Bộ luật Hình sự năm 1985.
- Bản án Hình sự sơ thẩm số 154/HSST ngày 04/12/1997 của Toà án nhân dân quận T, thành phố Hà Nội xử phạt Đoàn Phương N 06 tháng tù về tội Đánh bạc theo quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 1985.
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/11/2021; hiện đang bị tạm giam tại Trại giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội.
Người bào chữa cho bị cáo Đoàn Phương N: Ông Phạm Quốc T2, Luật sư Văn phòng Luật sư Q- Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội (Có mặt);
Bị hại: Anh Nguyễn Xuân P, sinh năm 1974; HKTT: Số 50 ngách 64/30 G, phường L, quận T, thành phố Hà Nội; Nơi tạm trú: Số nhà 96; ngõ 30; phố G; phường L, quận T, thành phố Hà Nội (có đơn xin xử vắng mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Dương Thị Hồng T, sinh năm 1970; trú tại: Số nhà 108, phố K, phường H, quận T, thành phố Hà Nội (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 03/11/2021, anh Nguyễn Xuân P (sinh năm 1974, trú tại số nhà 96, ngõ 30, phố G, phường L, quận T, Hà Nội) điều khiển xe máy Honda Click màu trắng, biển kiểm soát 29X5-9*** đi đến Cửa hàng bán xăng dầu số 259, đường G, phường M, quận Đ, Hà Nội để mua xăng. Do lúc này cửa hàng bán xăng đang tạm nghỉ để nhập hàng, nên anh P dắt xe đứng đợi thì có chị Trần Thị T3 (sinh năm 1978; trú tại số nhà 04, ngõ 42, phố C, phường Đ, quận M, Hà Nội) là người bán xăng lẻ ở đó, đến mời anh P mua xăng, nhưng anh P không mua. Anh P lấy thuốc lá ra hút nên bị chị T3 nhắc nhở, dẫn đến giữa chị T3 và anh P có lời qua tiếng lại với nhau. Cùng lúc này, Đoàn Phương N (sinh năm 1962; trú tại số nhà 108, phố K, phường H, quận T, thành phố Hà Nội) đầu đội chiếc mũ nhựa cứng màu xanh có gắn sao bảo vệ, đi bộ trên đường để đến chơi với một số người làm công tác bảo vệ ở khu vực công trường gần đó, thấy chị T3 và anh P cãi nhau nên dừng lại. Anh P hỏi N: “Ông có phải nhân viên an ninh không” thì N trả lời: “Tôi là bảo vệ” nhưng anh P không nghe thấy. Anh P hỏi lại: “Ông là bảo vệ hay bảo kê ở đây” thì N trả lời: “Mày muốn gì”. Anh P thấy N sang chỗ bùng binh trước Cửa hàng bán xăng số 259, đường G, phường M, quận Đ, Hà Nội thì đi theo để đưa điện thoại cho N nghe. Sau đó, giữa N và anh P xảy ra lời qua tiếng lại và xô xát đánh nhau. Quá trình xô xát, N dùng dao (dài khoảng 20 cm, bản rộng 02 - 03cm) đâm nhiều nhát vào phần đùi trái, vùng bụng và vùng ngực của anh P. Sau đó N vứt con dao xuống đường rồi bỏ đi, anh P được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện X. Khoảng 15 giờ ngày 05/11/2021, Đoàn Phương N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.
Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ đã tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ án, thu giữ vật chứng liên quan và trưng cầu giám định thương tích của người bị hại, kết quả như sau:
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 00 giờ 20 phút ngày 04/11/2021 tại cây xăng dầu số 1 ở số nhà 259, đường G, phường M, quận Đ, Hà Nội, xác định: “ …Nơi xảy ra sự việc tại trước cây xăng Mipecorp 259, đường G, phường M, quận Đ, Hà Nội. Tại hiện trường thấy vị trí thềm vỉa hè góc chữ A lối GP đi vào phố ĐL phát hiện đám chất màu nâu đỏ (nghi máu) dạng nhỏ giọt trên diện (50x20)cm. Từ vị trí này theo hướng Bắc phát hiện đám chất màu nâu đỏ (nghi máu) chạy dài dạng nhỏ giọt có đường chạy vòng cung theo 03 đoạn cua dài khoảng 40m đến khu vực vỉa hè rộng nhất cách cây xăng khoảng 22m thì kết thúc, điểm kết thúc có đám chất màu nâu đỏ tập trung nhiều nhất trên diện (70x80)cm. Trên đám chất này có dạng trượt ở giữa. Ngoài ra tại hiện trường không phát hiện gì khác”.
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng và đồ vật, tài sản liên quan gồm:
- Thu giữ do Đoàn Phương N giao nộp: 01 mũ nhựa bảo hộ màu xanh và 01 áo khoác màu đen.
- Thu giữ do anh Trần Cao V (sinh năm 1978; trú tại tổ 13, phường Đ, quận M, Hà Nội) giao nộp: 01 đĩa CD lưu giữ hình ảnh của 02 đoạn video trích xuất từ 02 camera tại Cửa hàng bán xăng số 259, đường G, phường M, quận Đ, Hà Nội.
- Thu giữ do chị Trần Thị Phương A (sinh năm 1984; trú tại số nhà 08, phố PĐ, phường Q, quận BĐ, Hà Nội, là bảo vệ tầng hầm phố V, phường M, quận Đ, Hà Nội) giao nộp: 01 đĩa CD ghi lại hình ảnh sự việc trước Cửa hàng bán xăng dầu số 259, đường G, phường M, quận Đ, Hà Nội.
- Đối với con dao do Đoàn Phương N sử dụng để đâm anh Nguyễn Xuân P, N khai đã vứt nhưng không nhớ nơi vứt nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Tại bản Kết luận giám định pháp y thương tích số 1113/TTPY ngày 08/11/2021 của Trung tâm Pháp y, Sở Y tế Hà Nội về thương tích của anh Nguyễn Xuân P như sau:
"... - Vết thương mũi ức, kích thước (1,5×0,3)cm, còn chỉ khâu;
- Vết thương bụng trái sát rốn, kích thước (3,5x0,1)cm;
- Vết thương hạ sườn phải, kích thước (03x0,3)cm, còn chỉ, khô;
Vết thương mặt trước 1/3 đùi trái trên gần mép bẹn trái, kích thước (02x0,2)cm còn chỉ. Chân trái vận động và cảm giác bình thường.
VI. KẾT LUẬN TẠI THỜI ĐIỂM GIÁM ĐỊNH
1. Các vết thương, vết mổ, vết dẫn lưu vùng ngực, bụng, đùi trái: 08%;
2. Khâu vết thương gan hạ phân thùy VI: 31%;
3. Khâu vết thương cơ hoành phải: 21%;
4. Tràn dịch khoang màng phổi phải đã dẫn lưu: 03%;
5. Hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng và biến chứng của các tổn thương. Đề nghị giám định bổ sung sau khi điều trị ổn định và ra viện.
6. Cơ chế hình thành các thương tích do vật sắc nhọn gây nên.
Tỷ lệ tổn hại sức khỏe: 51% (Năm mươi mốt phần trăm) tính theo phương pháp cộng lùi.
Quá trình điều tra, Đoàn Phương N khai: Khi N đi bộ về phía chân cầu vượt, hướng đi ngã tư TC - GP, anh P đi theo N dùng tay trái đấm hai, ba phát vào bụng của N, rồi kéo N ra phía bùng binh trước Cửa hàng bán xăng số 259, đường G, tay trái giơ điện thoại trước mặt N. Sau đó, anh P dùng chân trái lên gối vào bụng của N, nên N cúi xuống đất thì nhìn thấy túi nilon bên trong có vật cứng nên N dùng tay phải cầm vật bọc trong túi nilon đâm vào vùng bụng và vùng ngực phải, vùng đùi của anh P. Anh P bị chảy máu xuống chân của N, lúc này N mới biết vật N đâm là con dao. Tại cơ quan điều tra, anh P không thừa nhận việc dùng tay, chân đánh N, chửi bởi N. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ đã tiến hành triệu tập anh P để đối chất làm rõ mâu thuẫn nhưng anh P không hợp tác.
Căn cứ lời khai của N, lời khai của anh P, lời khai chị Trần Thị T3, lời khai nhân chứng Lê Văn Hà (sinh năm 1981; trú tại thị trấn Như Quỳnh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên), trích xuất camera thu giữ tại hiện trường xác định giữa N và anh P có lời qua tiếng lại trước Cửa hàng xăng dầu số 259, đường G. Sau đó N bỏ đi sang đường, anh P đi theo và gọi N sang khu vực bùng bình đối diện cây xăng khoảng 30-40 m thì hai bên xảy ra xô xát dẫn đến việc N dùng dao đâm vào đùi trái, ngực phải và bụng phải của anh P làm anh P bị thương tích nặng. Ngoài lời khai của N, không tài liệu nào thể hiện anh P có hành vi đánh N.
Trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Xuân P đề nghị xử lý bị can Đoàn Phương N theo quy định của pháp luật; sẽ yêu cầu bồi thường và cung cấp hoá đơn, chứng từ tại Toà án khi xét xử vụ án.
Tại cáo trạng số 450/ CT-VKS- P2 ngày 08/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố: Đoàn Phương N về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 529/2022/HS-ST ngày 23/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:
Áp dụng điểm n, khoản 1, Điều 123, điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 15, Điều 57. Bộ luật hình sự, xử phạt Bị cáo Đoàn Phương N 13 (mười ba) năm tù, Thời hạn tù tính từ ngày bắt 05/11/2021.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 03/01/2023, bị cáo Đoàn Phương N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đã gây ra như cáo trạng và bản án sơ thẩm đã nhận định, chỉ đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt như yêu cầu kháng cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 13 năm tù là quá nặng, khi nhân thân bị cáo phạm tội khi còn trẻ; bị cáo phạm tội một phần do lỗi của người bị hại; bị cáo đâm bị hại nhằm để thoát khỏi sự kìm kẹp của bị hại, không xác định vị trí đâm; sau khi phạm tội đã ra đầu thú và tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Tòa xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Đoàn Phương N nộp trong thời hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm;
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nhưng vì bị cáo đã 4 lần bị kết án nên không áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử dưới khung hình phạt là có căn cứ. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay, bị cáo xuất trình Đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo của người bị hại, theo đó người bị hại thừa nhận trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại 60.000.000 đồng. Nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa án sơ thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 03 đến 6 tháng tù.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên giữ nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Ngày 03/01/2023, bị cáo Đoàn Phương N có đơn kháng cáo là trong thời hạn luật định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét, giải quyết yêu cầu kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Phương N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã kết luận, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 03/11/2021, khi Đoàn Phương N đi bộ qua đoạn đường trước Cửa hàng bán xăng dầu số 259, đường G, phường M, quận Đ, Hà Nội, thì gặp anh Nguyễn Xuân P là người đang dừng xe máy chờ đổ xăng, sau đó cả hai lời qua tiếng lại với nhau. N bỏ đi bộ về phía ngã tư TC - GP thì anh P đi theo đến trước Cửa hàng bán xăng số 259 đường G thì gặp N và xảy ra xô xát với N. Sau đó, N cầm 01 con dao (dài khoảng 20 cm, bản rộng 02 - 03cm) đâm liên tiếp vào đùi trái, ngực và bụng của anh P, làm anh P bị tổn hại 51% sức khỏe. Xét thấy bị cáo Đoàn Phương N là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, dùng dao dâm nhiều nhát vào đùi trái, ngực và bụng là các bộ phận trọng yếu trên cơ thể của anh P, rồi bỏ đi để mặc cho anh P trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, bất chấp mọi hậu quả có thể xảy ra; việc anh P không chết, bị tổn hại 51% sức khỏe là nằm ngoài ý muốn của N. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Đoàn Phương N về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đoàn Phương N thì thấy: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định bị cáo có nhân thân xấu, có 4 tiền án đã được xóa án tích; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tích cực khắc phục hậu quả, bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo là gia đình có công với cách mạng, bị cáo đã ra đầu thú, bị hại cũng có một phần lỗi, bị cáo phạm tội chưa đạt để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 57 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 13 (mười ba) năm tù về tội “Giết người” là đúng người, đúng tội.
Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo Đoàn Phương N có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; xét thấy, bị cáo phạm tội một phần là do lỗi của bị hại, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự là thiếu sót; bị cáo là người nhiều tuổi, sức khỏe yếu; tại phiên tòa hôm nay, gia đình bị cáo xuất trình đơn đề nghị của người bị hại có nội dung đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và gia đình bị cáo cũng đã động viên thăm hỏi, xin lỗi và hỗ trợ cho bị hại 60.000.000đồng là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự; để đảm bảo sự công bằng trong việc áp dụng pháp luật và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung.
Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Phương N;
2. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 529/2022/HS-ST ngày 23/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Tuyên bố bị cáo Đoàn Phương N phạm tội “Giết người”;
Áp dụng điểm n, khoản 1, Điều 123, điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 15, Điều 57, Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Phương N 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù, Thời hạn tù tính từ ngày bắt 05/11/2021,
3. Về án phí: Bị cáo N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - Vụ GĐKT I TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - VKS ND thành phố Hà Nội; - Công an thành phố Hà Nội; - Cục THADS thành phố Hà Nội; - Bị cáo N (qua trại tạm giam); -Trại tạm giam Công an thành phố Hà Nội - Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia Bộ Tư pháp; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phan Nam |