vanban.org

Bản án 266/2023/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 18/07/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/07/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Không chấp nhận kháng cáo c a b cáo Tr nh oàng Q, giữ nguyên ản án số 02/2023/ SST ngày 06/01/2023 Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Áp dụng iểm n khoản 1 Điều 123; Điều 38; khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57, Điều 54, Điều 58 ộ luật ình sự; xử phạt b cáo Tr nh oàng Q 7 (B1) năm tù về tội “Giết người”. 2/ Án phí phúc thẩm: b cáo Tr nh oàng Q phải ch u 200.000 tiền án phí hình sự phúc thẩm. ản án phúc thẩm c hiệu lực kể từ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Hoàng Q - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận kháng cáo c a b cáo Tr nh oàng Q, giữ nguyên ản án số 02/2023/ SST ngày 06/01/2023 Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 266/2023/HS-PT
Ngày: 18/7/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

ông Nguyễn Tấn Trường

Các Thẩm phán:

ông Lê Phước Thanh

ông Nguyễn Cường

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Phương Mai, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Lê Văn Thành , Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, TAND cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 83/2023/TLPT- S ngày 13 tháng 02 năm 2023 ối với b cáo Tr nh oàng Q về tội “Giết người”; do c kháng cáo c a b cáo ối với ản án hình sự sơ thẩm số 02/2023/ SST ngày 06/01/2023 c a Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Bị cáo có kháng cáo:

Tr nh oàng Q, (tên gọi khác: Không), sinh ngày 10 tháng 7 năm 1998 tại tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: 38/13 (nay là 64/14) Nguyễn Thái , tổ C, phường , thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Thợ xăm; trình ộ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Tr nh Văn C và bà uỳnh Th Quỳnh S; c vợ Lê Th T và 01 con; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 02/11/2021 b Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 13/4/2022, Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. iện ang b tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai. C mặt.

- Người bào chữa cho b cáo Tr nh oàng Q: Ông Trần Văn T1 -Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Gia Lai; c mặt và ông Trần Đình T2 -Luật sư thuộc Đoàn luật sư 1; c mặt.

- hại: Anh Trần Đức T3, sinh năm 1997, hiện ang b tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai. C mặt.

- Người làm chứng:

+ Nguyễn Văn T4, (tên gọi khác: T4 rồng), sinh ngày 01 tháng 6 năm 1996 tại tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: 54/27/66/4 S, tổ , phường , thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Đã b Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm và xử phạt 07 năm tù

về tội “Giết người” theo iểm n khoản 1 Điều 123 ộ luật hình sự năm 2015. Đã thi hành án. C mặt.

+ Phan Tấn C1, (tên gọi khác: B), sinh ngày 13 tháng 11 năm 1990 tại tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: 54/27/66/2 S, tổ , phường , thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Đã b Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm và xử phạt 06 năm tù về tội “Giết người” theo iểm n khoản 1 Điều 123 ộ luật hình sự năm 2015. Đã thi hành án. C mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng ầu tháng 10/2021, Nguyễn Văn T4 thế chấp xe mô tô cho anh Trần Đức T3 nhưng anh Trần Đức T3 còn nợ tiền T3 chưa trả và T3 ã nhiều lần gọi iện cho anh Trần Đức T3 òi tiền nhưng anh Trần Đức T3 không trả nên hai bên xảy ra mâu thuẫn. Sau T3 c n i nội dung sự việc trên cho Phan Tấn C1 biết và nhờ C1 gọi iện hỏi Tr nh oàng Q c biết anh Trần Đức T3 ở âu thì n i cho C1 biết ể C1 n i cho T3. Đến khoảng 20 giờ 00 phút ngày 21/10/2021, Tr nh oàng Q gọi iện báo cho Phan Tấn C1 biết là nhìn thấy anh Trần Đức T3 ang ăn mì quảng tại quán à L , tổ E, phường , thành phố P, tỉnh Gia Lai thì C1 ã ến nhà T3 báo cho T3 biết nội dung trên. Sau T3 r C1 i ánh anh Trần Đức T3, C1 ã ồng ý sử dụng xe mô tô KS: 81 1-749.33, nhãn hiệu SIRIUS chở T3 i. Khi i T3 cầm theo 01 tuýp sắt gắn dao tự chế dài 84,5cm (trong tuýp sắt dài 47,5cm, dao dài 37cm). Trên ường i T3, C1 gặp Q ang i xe mô tô một mình (Q không nhớ biển số) tại ngã ba S giao nhau với ường , thì Q quay xe lại i cùng với T3 và C1. Khi i trên ường ến oạn ối diện quán mì quảng à L, T3 ã nhờ Q i lấy 01 tuýp sắt cho T3 mượn ể T3 ánh anh Trần Đức T3 thì Q ồng ý. Sau Trần Đức T3 và C1 ến bên hông quán à L ứng ợi Q. Tr nh oàng Q i ến tiệm C2 (Q không nhớ tên) trên ường , thành phố P lấy 01 tuýp sắt dài khoảng hơn 40cm rồi quay lại ưa cho Nguyễn Văn T4. Cùng lúc này anh Trần Đức T3 i từ trong quán mì quảng à L i ra thì Nguyễn Văn T4 dùng tay phải cầm 01 tuýp sắt trên ầu c gắn dao tự chế dài 84,5cm chạy ến âm 01 nhát trúng vào nách trái và dùng tay phải và tay trái cầm tuýp sắt dài khoảng hơn 40cm ánh liên tiếp một phát vào ầu và một phát vào tay phải c a anh Trần Đức T3 làm anh T3 b thương tích tại vùng ầu, cánh tay trái và hõm nách trái. Anh Trần Đức T3 bỏ chạy vào trong quán mì quảng à L và i ra cửa phía sau quán, sau

i ến Trung tâm y tế thành phố P khám và khâu vết thương rồi i về nhà. Nguyễn Văn T4 tiếp tục dùng tuýp sắt gắn dao tự chế ập phá xe mô tô nhãn hiệu ONDA, biển kiểm soát 81P7 – 4687 c a anh Trần Đức T3 rồi i ra chỗ Phan Tấn C1 ang ứng chờ tại bên hông quán à L ể C1 chở về nhà. Q i về phòng trọ tại ường Đ, phường I, thành phố P. Ngày 26/10/2021, anh Trần Đức T3 ến Công an phường , thành phố P trình báo vụ việc.

Ngày 22/12/2021, Trần Đức T3 c ơn bãi nại và không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Ngày 08/6/2022, Nguyễn Văn T4 ến Cơ quan Cảnh sát iều tra Công an tỉnh Gia Lai ầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a mình cùng với Phan Tấn C1 và Tr nh oàng Q.

Tại ản kết luận giám nh pháp y về thương tích số: 279/21/TgT ngày 11/11/2021 c a Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai, kết luận ối với Trần Đức T3:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Một sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh đầu kích thước (2,5x1)cm, sẹo liền, bờ mép không đều, nham nhở.

- Một sẹo vết thương phần mềm mặt sau ngoài 1/3 trên cánh tay trái kích thước (1,5x0,7)cm, sẹo liền, một đường thẳng, bờ mép sẹo rõ đều, màu hồng nhạt.

- Một sẹo vết thương phần mềm vùng hõm nách sau bên trái kích thước (1,5x0,3)cm, sẹo liền, bờ rõ, màu hồng nhạt.

- Một sẹo vết thương phần mềm vùng hõm nách dọc theo bờ trong sau cánh tay trái kích thước (1,5x0,3)cm, sẹo liền, bờ rõ, màu hồng nhạt.

2. Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 04% (Bốn phần trăm). Áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư 22/2019/TT-BYT.

3. Kết luận khác:

- Cơ chế hình thành vết thương: Do sự tác động trực tiếp của ngoại lực.

- Vật gây thương tích: + Vết thương phần mềm vùng đỉnh đầu: Phù hợp với sự tác động của vật tày. + Vết thương phần mềm: Mặt sau ngoài 1/3 trên cánh tay trái và hai vết thương vùng hõm nách trái là các thương tích phù hợp với sự tác động của vật sắc có cạnh bén.

Tại Kết luận giám nh số 276/KL-KT S ngày 04/5/2022 và 266/KL-KT S ngày 05/5/2022 c a Phòng K Công an tỉnh kết luận: Trên ống tuýp kim loại và 01 con dao: “không phát hiện có máu” “phát hiện dấu vết đường vân mờ nhòe, chồng lấn lên nhau, ít đặc điểm, không đủ yếu tố giám định”.

* Vật chứng c a vụ án:

- Ngày 21/10/2021, Công an phường , thành phố P, tỉnh Gia Lai ã lập iên bản tạm giữ một tuýp sắt dài 47,5cm, ường kính tuýp sắt là 2,3cm, bên trong rỗng; một con dao tự chế dài 37cm, cán dao dài 11,5cm, ược quấn bằng băng keo màu en và băng keo màu trắng, uôi cán dao hình lục giác, phần lưỡi dao dài 25,5cm, mũi dao sắc nhọn, lưỡi dao c hình dạng uốn lượn, sống dao c hình dạng răng cưa và 01 xe mô tô nhãn hiệu ONDA, biển kiểm soát 81P7-4687 tại quán à L, a chỉ:

, tổ E, phường , thành phố P, tỉnh Gia Lai.

- Đối với xe mô tô iển kiểm soát 81P7-4687: Cơ quan Cảnh sát iều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai ã ra Quyết nh trả lại xe mô tô trên cho ch sở hữu ch Trần Th Thu T5 là ch gái c a anh Trần Đức T3.

- Đối với 01 tuýp sắt mà Nguyễn Văn T4 sử dụng ánh anh Trần Đức T3 vào tối ngày 21/10/2021 tại trước cửa quán à L: can Nguyễn Văn T4 khai sau khi âm và ánh anh Trần Đức T3, b can ã mang tuýp sắt về, trên ường về b can ã vứt trên vỉa hè ường S, thành phố P. Cơ quan iều tra ã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ ược.

- Đối với xe mô tô KS: 81 1-749.33, Phan Tấn C1 sử dụng chở Nguyễn Văn T4 i ánh anh Trần Đức T3, Kết quả iều tra xác nh chiếc xe trên là c a anh Phan Khắc N (là em trai c a C1), ngày 21/10/2021, anh N c giao xe cho C1 mượn, anh N không biết C1 sử dụng ể chở Nguyễn Văn T4 i âm và ánh anh Trần Đức T3. Do Cơ quan iều tra không tạm giữ phương tiện ể xử lý trong vụ án.

Tại Bản án số 02/2023/HSST ngày 06/01/2023 Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai đã Quyết định:

1. Về tội danh: Tuyên bố các b cáo Nguyễn Văn T4, Phan Tấn C1 và Tr nh oàng Q phạm tội “Giết người”.

2. Về hình phạt:

- Áp dụng iểm n khoản 1 Điều 123; Điều 38; khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57, Điều 54, Điều 58 ộ luật ình sự.

Xử phạt b cáo Tr nh oàng Q 7 (B1) năm tù.

Áp dụng Điều 55, Điều 56 về tổng hợp hình phạt c a nhiều bản án. Gồm: ản án số 38/2022/ SST ngày 13/4/2022 c a Tòa án nhân dân thành phố Pleiku mức án 18 (mười tám) tháng tù cộng với mức án 7 (bảy) năm tù c a bản án này. uộc b cáo Tr nh oàng Q phải chấp hành hình phạt chung c a hai bản án là 8 (T6) năm 6 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/11/2021.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết nh về hình phạt các b cáo khác; trách nhiệm dân sự; án phí và quyền kháng cáo theo quy nh c a pháp luật.

Ngày 07/01/2022 b cáo Tr nh oàng Q kháng cáo kêu oan.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

cáo Tr nh oàng Q kháng cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo như trong ơn ã nêu, ề ngh xem xét b cáo không c hành vi phạm tội. Luật sư Trần Đình T2 bào chữa cho b cáo nêu quan iểm: án sơ thẩm chưa làm rõ vai trò c a b cáo Q nhưng quy kết b cáo Q c vai trò ồng phạm với các b cáo khác về tội “Giết người” là không c căn cứ. ởi lẽ, khi nghe b cáo T4 nhờ tìm lấy cây tuýp sắt, thì b cáo Q không c ý thức ược là b cáo T4 nhờ lấy sắt ể ánh b hại. Đồng thời, tại phiên toà hôm nay luật sư c cung cấp 01 hình ảnh và 02 US ghi âm, ghi hình cho rằng cấp sơ thẩm chưa giám nh. Do vậy luật sư yêu cầu huỷ án sơ thẩm ể trả hồ sơ iều tra làm rõ các chứng cứ trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng trình bày quan điểm: kháng cáo c a b cáo Tr nh oàng Quý là hợp lệ úng pháp luật ược xem xét theo th tục phúc thẩm; b cáo kháng cáo ề ngh sửa án sơ thẩm, giảm nhẹ. Tại phiên tòa hôm nay, qua tranh luận xét thấy việc iều tra là ầy , toàn diện. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ c trong hồ sơ vụ án Tòa án cấp sơ thẩm ã xử phạt b cáo Tr nh oàng Q 7 (B1) năm tù về tội “Giết người” theo iểm n khoản 1 Điều 123; Điều 38; khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57, Điều 54, Điều 58 ộ luật ình sự là úng pháp luật. cáo kháng cáo, nhưng không cung cấp ược chứng cứ nào mới, chứng cứ luật sư nêu ra là không liên quan. Vì vậy, ề ngh ĐXX không chấp nhận kháng cáo c a b cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, b cáo Tr nh oàng Q thừa nhận toàn bộ hành vi như án sơ thẩm ã nêu; nhưng cho rằng hành vi không cấu thành tội phạm; vì b cáo Q không c ý thức ược rằng b cáo tìm cây tuýp sắt ể cho b cáo T4 ánh b hại. Xét thấy, lời khai c a b cáo phù hợp với lời khai c a người b hại; người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và các b cáo khác tại cơ quan iều tra và các chứng cứ ã thu thập ược. Như vậy, c

căn cứ chứng minh kết luận: khoảng ầu tháng 10/2021, vì anh Trần Đức T3 không trả tiền thế chấp xe cho Nguyễn Văn T4, nên Văn T4 n i cho Phan Tấn C1 biết và nhờ C1 hỏi Tr nh oàng Q c biết anh Trần Đức T3 ở âu. Đến khoảng 20 giờ 00 phút ngày 21/10/2021, Tr nh oàng Q báo cho Phan Tấn C1 biết là thấy anh Trần Đức T3 ang ăn mì quảng, nên C1 báo cho Văn T4 biết. Sau Văn T4 r C1 i ánh anh Trần Đức T3, C1 sử dụng xe mô tô KS: 81 1-749.33, nhãn hiệu SIRIUS chở Văn T4 i. Văn T4 cầm theo 01 tuýp sắt gắn dao tự chế dài 84,5cm (trong tuýp sắt dài 47,5cm, dao dài 37cm). Trên ường Đ, C1 gặp Q ang i xe mô tô một mình (Q không nhớ biển số), thì Q quay xe lại i cùng với Văn T4 và C1. Khi i trên ường , Văn T4 ã nhờ Q i lấy 01 tuýp sắt cho Văn T4 mượn ể Văn T4 ánh anh Trần Đức T3 thì Q ồng ý. Sau Văn T4 và C1 ến bên hông quán à L ứng ợi Q. Tr nh oàng Q i ến tiệm C2 (Q không nhớ tên) trên ường , thành phố P lấy 01 tuýp sắt dài khoảng hơn 40cm rồi quay lại ưa cho Nguyễn Văn T4. Cùng lúc này anh Trần Đức T3 i từ trong quán mì quảng à L i ra thì Nguyễn Văn T4 cầm 01 tuýp sắt trên ầu c gắn dao tự chế dài 84,5cm chạy ến âm 01 nhát trúng vào nách trái và dùng tay phải và tay trái cầm tuýp sắt dài khoảng hơn 40cm ánh liên tiếp một phát vào ầu và một phát vào tay phải c a anh Trần Đức T3 làm anh T3 b thương tích tại vùng ầu, cánh tay trái và hõm nách trái. Nguyễn Văn T4 tiếp tục dùng tuýp sắt gắn dao tự chế ập phá xe mô tô nhãn hiệu ONDA, biển kiểm soát 81P7 – 4687 c a anh Trần Đức T3. Còn Q thì i về phòng trọ tại ường Đ, phường I, thành phố P.

Với hành vi và hậu quả như trên; Toà án cấp sơ thẩm xem xét vai trò c a từng b cáo, trong b cáo Q c vai trò thấp nhất là người giúp sức; tuy nhiên b cáo Q c nhân thân không tốt, nên xử phạt b cáo Phan Tấn C1 6 năm tù; b cáo Nguyễn Văn T4 7 năm tù và Tr nh oàng Q 7 năm tù về tội “Giết người” theo iểm n khoản 1 Điều 123 L S là c căn cứ.

Xét kháng cáo kêu oan c a b cáo Tr nh oàng Q:

Đối với kháng cho rằng b cáo Q i tìm cây tuýp sắt cho b cáo T4, nhưng không biết là b cáo Văn T4 dùng ể ánh b hại Đức T3; ĐXX thấy rằng: quá trình tố tụng b cáo Q ều thừa nhận là c cung cấp thông tin b hại Đức Tín cho các b cáo biết; c tìm và mang cây tuýp sắt giao cho b cáo Văn T4; nhưng b cáo Q cho rằng không biết b cáo Văn T4 dùng cây tuýp sắt ể ánh b hại Đức T3. Tuy nhiên, lời khai c a b cáo Q không phù hợp với diễn biến khách quan c a vụ án, không phù hợp với lời khai c a các b cáo Văn T4 và Tấn C1 cũng như lời khai c a b hại Đức T3 và cũng không phù hợp với chứng cứ ã thu thập c tại hồ sơ vụ án. ởi lẽ: b cáo Văn T4, Tấn C1 ều khai rõ do C1 nhờ nên Q gọi iện chỉ cho C1 việc b hại Đức T3 ang ở quán Mì quảng à L. Q cũng là người ưa Đức T3 và C1 ến quán M quảng à L, lúc này Văn T4 ang cầm cây sắt gắn dao tự chế dài 84,5cm (ống kim loại dài 47,5cm gắn dao dài 37cm) và Văn T4 nhờ Q về lấy cho Văn T4 cây tuýp sắt ể ánh Đức T3. Thời iểm này buộc Q phải biết vì Q là người chỉ iểm Đức T3 cho Văn T4 trong lúc trên tay Văn T4 ang cầm hung khí nguy hiểm và tiếp tục nhờ Q tìm thêm hung khí nguy hiểm khác. Sau b cáo Q chạy i lấy cây tuýp sắt và quay lại bên hông quán Mì quảng à L c Văn T4 và C1 ang ứng ợi ưa tuýp sắt cho Văn T4, ngay lúc b hại T4 bước ra khỏi quán nên b cáo T4 cầm hai hung khí âm và ánh Đức T3, anh T3 bỏ chạy thì b cáo T3 ập xe mô tô c a anh T3 rồi lên xe C1 chở, còn Q chạy theo sau i về.

Đối với ý kiến c a luật sư ề ngh huỷ án sơ thẩm vì c chứng cứ mới cần làm sáng tỏ; ĐXX thấy rằng: tại phiên toà hôm nay luật sư bào chữa cho b cáo Q cung cấp 01 tấm hình và 02 US ghi âm, ghi hình và nêu nội dung trong các file cung cấp; tuy nhiên những nội dung này không liên quan ến hành vi phạm tội c a b cáo Q; nên ĐXX không chấp nhận.

Từ những nhận nh trên ây, xét thấy Toà án cấp sơ thẩm xem xét b cáo Q là ồng phạm với vai trò giúp sức, từ áp dụng iểm n khoản 1 Điều 123; Điều 38; khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57, Điều 54, Điều 58 ộ luật ình sự; xử phạt b cáo Tr nh oàng Q 7 năm tù là úng pháp luật. cáo kháng cáo kêu oan, nhưng không cung cấp ược tình tiết nào mới làm thay ổi bản chất vụ án; do vậy, ĐXX chấp nhận ề ngh c a Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo c a b cáo và người bào chữa; giữ nguyên bản án sơ thẩm là c căn cứ pháp luật.

Các quyết nh khác c a bản án sơ thẩm không b kháng cáo, kháng ngh c hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng ngh .

cáo Tr nh oàng Q phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy nh.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ iểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 c a ộ luật Tố tụng hình sự.

1/ Không chấp nhận kháng cáo c a b cáo Tr nh oàng Q, giữ nguyên ản án số 02/2023/ SST ngày 06/01/2023 Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Áp dụng iểm n khoản 1 Điều 123; Điều 38; khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57, Điều 54, Điều 58 ộ luật ình sự; xử phạt b cáo Tr nh oàng Q 7 (B1) năm tù về tội “Giết người”.

Áp dụng Điều 55, Điều 56 L S; tổng hợp hình phạt c a nhiều bản án: ản án số 38/2022/ SST ngày 13/4/2022 c a Tòa án nhân dân thành phố Pleiku mức án 18 (mười tám) tháng tù cộng với mức án 7 (bảy) năm tù c a bản án này. uộc b cáo Tr nh oàng Q phải chấp hành hình phạt chung c a hai bản án là 8 (T6) năm 6 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/11/2021.

2/ Án phí phúc thẩm: b cáo Tr nh oàng Q phải ch u 200.000 tiền án phí hình sự phúc thẩm. ản án phúc thẩm c hiệu lực kể từ ngày tuyên án (18/7/2023).

Cỡ chữ