vanban.org

Bản án 266/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị X.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trương Thị X được ly hôn với anh Hoàng Văn C. Về con chung: Giao con chung là cháu Hoàng Thảo M, sinh ngày 16/10/2017 cho chị Trương Thị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Anh Hoàng Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Trương Thị Xvà … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị X - Hoàng Văn C"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị X.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM YÊN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 266/2023/HNGĐ-ST
Ngày 13 - 9 - 2023
“V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hiếu.

2. Ông Bàn Đức Hiếu.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiếm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Vũ Phương Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 13/9/2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức số hóa vụ án dân sự thụ lý số 123/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/8/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2023/QĐST-HNGĐ ngày 25/8/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị X, sinh năm 1994.

- Bị đơn: Anh Hoàng Văn C, sinh năm 1989.

Cùng nơi cư trú: Thôn L, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

(Chị X vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Anh C đã được Tòa án triệu tập, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần nhưng tại phiên tòa vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo nội dung đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn chị Trương Thị X trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Văn C được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 16/12/2016 tại UBND xã Bạch Xa, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Tình cảm vợ chồng trong thời gian đầu chung sống hạnh phúc bình thường, đến năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không thống nhất trong làm ăn phát triển kinh tế gia đình dẫn đến thường xuyên cãi chửi nhau. Chị xác định không còn tình cảm với anh C, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị với anh C đã quá căng thẳng, trầm trọng, không thể đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình và nuôi dạy con cái. Thực tế chị và anh C đã sống ly thân nhau từ tháng 11 năm 2022 đến nay không ai quan tâm thăm hỏi gì đến nhau nữa. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn C theo quy định pháp luật.

- Về con chung: Chị và anh Hoàng Văn C có 01 con chung là cháu Hoàng Thảo M, sinh ngày 16/10/2017. Ly hôn chị đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Hoàng Thảo M đến khi trưởng thành và chị không yêu cầu anh Hoàng Văn C phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị vì từ khi vợ chồng ly thân cháu M vẫn ở cùng chị.

- Về tài sản chung: Chị và anh Hoàng Văn C không có tài sản chung không đề nghị Tòa án giải quyết khi ly hôn.

- Về công nợ chung: Chị và anh Hoàng Văn C không vay nợ ai, không cho ai vay nợ, không đề nghị Tòa án giải quyết khi ly hôn.

Chị Trương Thị X xác định anh Hoàng Văn C đã biết và được chị trực tiếp thông báo về việc chị gửi đơn đến Toà án nhân dân huyện Hàm Yên để giải quyết việc ly hôn giữa chị với anh C, nhưng anh C cố tình trốn tránh nghĩa vụ không đến Toà án làm việc.

Tại phiên tòa, chị Trương Thị X vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị X giữ nguyên ý kiến đã trình bày nêu trên, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì khác.

* Đối với bị đơn anh Hoàng Văn C:

Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên đã gửi Thông báo thụ lý vụ án số 123/2023/TLST-HNGĐ ngày 02/6/2023; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07/8/2023 và các văn bản tố tụng khác cho anh Hoàng Văn C biết, báo gọi anh C nhiều lần đến Tòa án giải quyết vụ án nhưng anh C không trực tiếp đến Tòa án làm việc. Toà án đã phối hợp với đại diện thôn L, xã B trực tiếp đến nơi cư trú, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của anh C để lấy lời khai và làm việc nhưng anh C không có mặt tại gia đình và địa phương. Tòa án đã tiến hành làm việc với đại diện chính quyền địa phương (thôn, xã) và người thân của anh C để trực tiếp thông báo về việc chị X gửi đơn đến Toà án nhân dân huyện Hàm Yên để giải quyết việc ly hôn giữa chị X với anh C, nhưng anh C cố tình trốn tránh nghĩa vụ không đến Toà án làm việc. Như vậy người bị khởi kiện là anh Hoàng Văn C đã cố tình trốn tránh nghĩa vụ nên Tòa án tiến hành thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục chung theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án xác minh tại địa phương thôn L, xã B và Công an xã Bạch Xa, huyện Hàm Yên được cung cấp: Hiện nay chị Trương Thị X và anh Hoàng Văn C là công dân đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Chị X và anh C được tự do tìm hiểu và và đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 16/12/2016 tại UBND xã Bạch Xa, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Tình cảm vợ chồng trong thời gian đầu chung sống hạnh phúc bình thường, đến khoảng năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do tính tình không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không thống nhất trong làm ăn phát triển kinh tế gia đình, anh C mải chơi không tu chí làm ăn dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Vợ chồng sống ly thân khoảng 01 năm nay. Anh C thường xuyên đi làm ăn xa nhà, thi thoảng mới về địa phương thăm gia đình, anh C làm công việc gì, địa chỉ cụ thể ở đâu thì địa phương không biết. Đồng thời đại diện thôn L, xã B cũng xác định: Địa phương đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án số 123/2023/TLST- HNGĐ ngày 02/6/2023 của Tòa án về việc giải quyết ly hôn giữa chị X và anh C, do Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên gửi nhờ địa phương giao, tống đạt trực tiếp cho anh C biết nội dung. Tuy nhiên do anh C thường xuyên đi làm ăn xa vắng nhà, không có mặt tại địa phương nên gia đình anh C và đại diện thôn L đã trực tiếp gọi điện thoại thông báo cho anh C biết và tiến hành niêm yết Thông báo thụ lý vụ án số 123/2023/TLST- HNGĐ ngày 02/6/2023 và các văn bản tố tụng khác của Tòa án theo quy định pháp luật. Nay chị X làm đơn xin ly hôn với anh C, quan điểm của địa phương là đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Về tài liệu, chứng cứ: Các đương sự cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ gồm:

- Nguyên đơn chị Trương Thị Xcung cấp cho Tòa án: 01 Đơn khởi kiện; 01 Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); 01 Căn cước công dân mang tên Trương Thị X (bản sao chứng thực); 01 Giấy khai sinh mang tên Hoàng Thảo M (bản sao chứng thực); 01 Xác nhận thông tin cư trú của Công an xã Bạch Xa (bản chính);

- Bị đơn anh Hoàng Văn C cung cấp cho Tòa án: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác, thông báo anh Hoàng Văn C đến Tòa án làm việc để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định pháp luật. Tuy nhiên các lần thông báo của Tòa án anh C đều không đến làm việc nên Tòa án không tiến hành hòa giải được cho các bên đương sự suy nghĩ lại tình cảm để quay về hàn gắn, đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình. Vì vậy Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định chung của pháp luật.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

- Về tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn chị Trương Thị Xchấp hành tốt các quy định pháp luật; Bị đơn anh Hoàng Văn C đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhiều lần nhưng đều vắng mặt không đến Tòa án làm việc nên Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh C theo quy định pháp luật. Vì vậy có thể xác định anh Hoàng Văn C đã cố tình trốn tránh nghĩa vụ của mình, nên vụ án được giải quyết theo thủ tục chung.

- Về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 39, Điều 147, điểm e khoản 1 Điều 192; các Điều 227, 228, 235, 238, 266, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị X.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trương Thị X được ly hôn với anh Hoàng Văn C.

- Về con chung: Giao cháu Hoàng Thảo M, sinh ngày 16/10/2017 cho chị Trương Thị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Anh Hoàng Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Trương Thị X và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở; Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

- Về án phí: Chị Trương Thị X phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; Anh Hoàng Văn C không phải chịu tiền án phí.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo bản án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng:

- Về thẩm quyền: Chị Trương Thị X có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Hoàng Văn C nên xác định đây là vụ án “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Theo thông tin chị X cung cấp và Tòa án xác minh thì hiện nay bị đơn anh Hoàng Văn C là công dân đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại thôn L, xã B, huyện H nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc vắng mặt của bị đơn anh Hoàng Văn C tại phiên tòa: Qua xác minh tại địa phương nơi anh C đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi anh C thường xuyên sinh sống, gia đình anh C và chính quyền cung cấp: Anh C thường xuyên đi làm ăn xa nhà, thi thoảng mới về thăm gia đình và địa phương. Trước khi chị X nộp đơn ly hôn lên Tòa án thì chị X đã thông báo cho anh C biết việc chị X sẽ làm đơn ly hôn với anh C gửi Tòa án giải quyết, anh C biết nhưng nói không về Tòa án làm việc. Vì vậy Tòa án đã tiến hành các thủ tục theo quy định pháp luật về thụ lý vụ án, mở phiên họp công khai chứng cứ, xét xử thông qua chị Trương Thị X (vợ anh C) và chính quyền địa phương. Như vậy người bị kiện là anh Hoàng Văn C đã cố tình trốn tránh nghĩa vụ nên Tòa án tiến hành thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục chung theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Hoàng Văn C theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị X và anh Hoàng Văn C có được tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 16/12/2016 tại UBND xã Bạch Xa, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Như vậy, quan hệ hôn nhân của chị X và anh C là hợp pháp.

Quá trình chung sống giữa chị X và anh C hạnh phúc đến năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do vợ chồng không hợp tính nhau, luôn bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không thống nhất trong làm ăn phát triển kinh tế gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Chị X xác định không còn tình cảm với anh C, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị X với anh C đã quá căng thẳng, trầm trọng, không thể đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình và nuôi dạy con cái. Thực tế chị X và anh C đã sống ly thân nhau từ tháng 11 năm 2022 đến nay không ai quan tâm thăm hỏi gì đến nhau nữa. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị X và anh C đã quá căng thẳng, trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thể đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình và nuôi dậy con cái. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị Trương Thị X và xử cho chị X được ly hôn với anh Hoàng Văn C theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị Trương Thị X và anh Hoàng Văn C có 01 con chung là cháu Hoàng Thảo M, sinh ngày 16/10/2017.

Từ tháng 11 năm 2022 khi vợ chồng anh chị sống ly thân đến nay cháu Hoàng Thảo M vẫn trực tiếp ở cùng chị Trương Thị X và do chị X trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ly hôn chị Trương Thị X có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Thảo M; Căn cứ kết quả xác minh tại địa phương thì cuộc sống của cháu Hoàng Thảo M vẫn đảm bảo cả về tinh thần, vật chất và được học tập đầy đủ khi ở với chị Trương Thị X. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần tuyên xử cho chị Trương Thị X được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Hoàng Thảo M; Anh Hoàng Văn C được quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở, ngăn cấm; Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh Hoàng Văn C không đến Tòa án làm việc nên không xác định được anh C có nguyện vọng cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Trương Thị X không; Đồng thời chị Trương Thị X không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, đất đai chung: Chị Trương Thị X xác định vợ chồng không có tài sản chung không đề nghị Toà án giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Về công nợ chung: Chị Trương Thị X xác định vợ chồng không vay nợ ai, không cho ai vay nợ, không đề nghị Toà án giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Trương Thị X phải chịu toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm; Anh Hoàng Văn C không phải chịu tiền án phí.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Điều 39, Điều 147, điểm e khoản 1 Điều 192; các Điều 227, 228, 235, 238, 266, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị X.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trương Thị X được ly hôn với anh Hoàng Văn C.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Hoàng Thảo M, sinh ngày 16/10/2017 cho chị Trương Thị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Anh Hoàng Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Trương Thị Xvà có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở; Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

3. Về án phí:

+ Chị Trương Thị X phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0006596, ngày 02 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Ghi nhận chị Trương Thị X đã nộp đủ tiền án phí.

+ Bị đơn anh Hoàng Văn C không phải nộp án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Trương Thị X và anh Hoàng Văn C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ