vanban.org

Bản án 266/2021/HS-ST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 23/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Căn cứ khoản 1 Điều 306; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Vận chuyển trái phép vũ khí thô sơ”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T: 01 (một) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức Thành vận chuyển trái phép vũ khí thô sơ - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt sún…"
  • Tòa quyết gì? 1- Căn cứ khoản 1 Điều 306; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 266/2021/HS-ST
Ngày: 23/6/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Khắc Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Quý

2/ Ông Chu M Tường

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 188/2021/HSST ngày 18/5/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 295/QĐXXST-HS ngày 07/6/2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức T, sinh năm 1990 tại Vĩnh Long; Thường trú: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Vĩnh Long; Tạm trú: A Võ Thành Trang, Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: chạy xe garb; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: không rõ và mẹ bà Nguyễn Thị Kim Hoa; Vợ Đỗ Thị Mỹ Hạnh, có 02 người con, con nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền sự: ngày 31/8/2020 Ủy ban nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 4648/QĐ-XPVPHC với số tiền 10.000.000 đồng, hiện bị cáo chưa thực hiện việc nộp phạt; Tiền án: không; Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Ông Nguyễn Tiến M, sinh năm 1988

Thường trú: thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Ninh.

Chỗ ở: nhà không số, hẻm A đường B, phường C, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

2/ Ông Lê Minh D, sinh năm 1988

Thường trú: tổ 2, ấp Sóc A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước.

Chỗ ở: A đường B, Phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

3/ Ông D

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 12 giờ ngày 19/11/2020, Công an quận Tân Bình phối hợp với Công an phường Bình Chiều, quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức) kiểm tra nhà không số, hẻm 111/2/3 đường Ngô Chí Quốc, phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức do Nguyễn Tiến M thuê (M liên quan đến vụ vận chuyển trái phép vũ khí thô sơ tại quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh). Khi tổ công tác đang làm nhiệm vụ thì phát hiện Nguyễn Đức T điều khiển xe mô tô biển số 68E1-155.81 mang theo 02 cây kiếm và 01 cây đao; Lê Minh D có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác mời T và D về Công an phường Bình Chiểu làm việc.

Tại Cơ quan Điều tra, Nguyễn Đức T khai nhận: T quen với Nguyễn Tiến M qua mạng xã hội từ tháng 7/2020 và nhận lời vận chuyển vũ khí thô sơ cho M để M trả tiền công cho T. Lúc 11 giờ ngày 18/11/2020, M gọi điện thoại cho T nói T đến trước hẻm 111 đường Ngô Chí Quốc, phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức) để nhận đao và kiếm đi giao cho khách tại Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 12 giờ cùng ngày, T đến điểm hẹn thì M giao cho T 01 túi nylon bên trong có 02 cây kiếm và 01 cây đao. Khi nhận bịch nylon trên, T biết bên trong có chứa vũ khí thô sơ. Sau đó, T mang bịch nylon trên về nhà trọ cất giữ, không đến Quận 7 giao hàng cho khách vì sợ bị Công an phát hiện. Đến sáng ngày 19/11/2020, T gọi điện thoại cho M nói dối không giao hàng được cho khách rồi đến 12 giờ 15 phút ngày 19/11/2020, T mang bịch nylon trên đến hẻm 111 đường Ngô Chí Quốc trả lại cho M để nhận tiền công 100.000 đồng nhưng chưa nhận được thì bị phát hiện như trên.

T khai vận chuyển đao và kiếm cho M 02 lần, lần đầu tiên là ngày 20/8/2020, T đi giao giúp M 06 cây kiếm, 05 bình xịt hơi cay, 02 súng bắn điện để giao cho khách, khi đi đến khu vực cầu vượt Sóng Thần, phường An Bình, T phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương thì bị Công an phường An Bình bắt giữ, lập biên bản vi phạm hành chính và bị Ủy ban nhân dân thành phố Dĩ An ra Quyết định xử phạt số tiền 10.000.000 đồng, T chưa nộp phạt do chưa có tiền. Lần thứ 2 là khoảng tháng 9/2020, T vận chuyển giúp M 01 cây kiếm Nhật để giao cho khách nhưng T không giao, nói dối M là không giao được và nhận tiền công từ M 100.000 đồng (BL 57-78).

Lê Minh D khai: Sáng ngày 19/11/2020, Nguyễn Tiến M gọi điện thoại cho Lê Minh D nói D đến trước nhà 111/2/3 đường Ngô Chí Quốc, khu phố 2, phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức nhận vũ khí thô sơ và công cụ hỗ trợ để giao cho khách hàng. Đến khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, khi D đến địa chỉ trên chuẩn bị gặp M thì bị phát hiện như trên. (BL 81- 90).

Kết luận giám định 2490/KLGĐ-TT ngày 08/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận :

- Dụng cụ có cán, lưỡi sắc nhọn bằng kim loại gửi giám định ký hiệu A1 là đao. Căn cứ khoản 4 Điều 3 của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ do Quốc hội ban hành ngày 20/6/2017 thì dụng cụ gửi giám định nêu trên thuộc nhóm vũ khí thô sơ.

- Hai dụng cụ có cán, lưỡi sắc nhọn bằng kim loại gửi giám định ký hiệu A2, A3 là kiếm. Căn cứ khoản 4 Điều 3 của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ do Quốc hội ban hành ngày 20/6/2017 thì dụng cụ gửi giám định nêu trên thuộc nhóm vũ khí thô sơ.

Vật chứng:

- 02 kiếm có cán và vỏ bao đen, dài 530mm (khi có vỏ bao), dài 490mm (khi không có vỏ bao), lưới sắc KL bạc dài 340mm, dày 2mm.

- 01 Dao bằng KL có cán bằng gỗ, lưới sắc nhọn, chiều dài khoảng 690cm, bằng KL màu bạc dài 512 cm, bản rộng nhất 19mm, dày 2mm.

- 01 xe mô tô biển số 68E1-155.81 (số khung RLCS1FC40E-Y020078; SM: 1FC4-020088).

- 01 điện thoại di động Xiaomi bên trong có chứa 01 sim mobiphone.

Kết quả xác minh, xe mô tô biến số 68E1-155.81 do người tên Danh Rây có hộ khẩu tại ấp An Lợi, xã An Định, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang đứng tên chủ sở hữu. Xác minh tại ấp An Lợi, xã An Định, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang không có người tên Danh Rây ở địa chỉ trên (BL 112). T khai xe mô tô biển số 68E1-155.81 mua trên mạng chotot.vn của người thanh niên tên Lương Triệu Vỹ vào tháng 01/2020 với giá 7.000.000 đồng nhưng không làm thủ tục sang tên.

Tại bản Cáo trạng số 150/CT – VKSTPTĐ ngày 10/5/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Vận chuyển trái phép vũ khí thô sơ” theo khoản 1 Điều 306 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội: “Vận chuyển trái phép vũ khí thô sơ” đồng thời đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 306; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.

Bị cáo không tranh luận về hành vi phạm tội, lời sau cùng bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 19/11/2020, tại hẻm 111 đường Ngô Chí Quốc, phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức), Nguyễn Đức T đã thực hiện hành vi vận chuyển 02 cây kiếm và 01 cây đao tự chế là vũ khí thô sơ, thì bị Công an phường Bình Chiểu bắt quả tang. Trước đó vào ngày 31/8/2020, Ủy ban nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T số tiền 10.000.000 đồng vì có hành vi tàng trữ, vận chuyển vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép.

Hành vi vận chuyển vũ khí thô sơ dù trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này đã thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép vũ khí thô sơ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 306 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến khách thể là trật tự quản lý của nhà nước đối với vũ khí nên cần xử phạt bị cáo một hình phạt nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa.

Đối với Nguyễn Tiến M đã được Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Tân Bình thụ lý giải quyết tin báo do liên quan đến tin báo vận chuyển vũ khí thô sơ tại quận Tân Bình. Tại Cơ quan điều tra M chỉ thừa nhận thuê Phạm Ngọc Thành, Huỳnh Minh Kha và Đinh M Tuấn Kiệt giao hàng của M, không thừa nhận thuê D và Nguyễn Đức T giao vũ khí thô sơ như lời khai của T và D. Hiện nay, M không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra công an thành phố Thủ Đức chưa lấy được lời khai của M.

Đối với Lê Minh D do chưa nhận vũ khí từ M, M không thừa nhận thuê D đi giao vũ khí thô sơ nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với D.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Về tình tiết tăng nặng: không có; Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, nên cần giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

- Đối với 01 điện thoại di động Xiaomi bên trong có chứa 01 sim mobiphone quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu vào ngân sách nhà nước.

- Đối với 02 kiếm có cán và vỏ bao đen, dài 530mm (khi có vỏ bao), dài 490mm (khi không có vỏ bao), lưới sắc KL bạc dài 340mm, dày 2mm và 01 dao bằng KL có cán bằng gỗ, lưới sắc nhọn, chiều dài khoảng 690cm, bằng KL màu bạc dài 512 cm, bản rộng nhất 19mm, dày 2mm cần tịch thu tiêu hủy;

- Đối với 01 xe mô tô biển số 68E1-155.81 do người tên Danh Rây có hộ khẩu tại ấp An Lợi, xã An Định, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang đứng tên chủ sở hữu. Xác minh tại ấp An Lợi, xã An Định, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang không có người tên Danh Rây ở địa chỉ trên. T khai mua trên mạng của người thanh niên tên Lương Triệu Vỹ vào tháng 01/2020 với giá 7.000.000 đồng nhưng không làm thủ tục sang tên. Do chưa xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nên cần đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với chiếc xe trên, hết thời hạn đăng thông báo mà không tìm được sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1- Căn cứ khoản 1 Điều 306; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Vận chuyển trái phép vũ khí thô sơ”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T: 01 (một) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án hoặc bị bắt thi hành án.

3- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi bên trong có chứa 01 sim mobiphone;

Tịch thu tiêu hủy: 02 kiếm có cán và vỏ bao đen, dài 530mm (khi có vỏ bao), dài 490mm (khi không có vỏ bao), lưới sắc KL bạc dài 340mm, dày 2mm và 01 dao bằng KL có cán bằng gỗ, lưới sắc nhọn, chiều dài khoảng 690cm, bằng KL màu bạc dài 512 cm, bản rộng nhất 19mm, dày 2mm.

- Giao cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cho đăng tải thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp xe mô tô biển số 68E1-155.81 (số khung RLCS1FC40E-Y020078; SM: 1FC4-020088). Hết thời hạn nêu trên, nếu không tìm được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

(Theo phiếu nhập kho số NKT2021/149 ngày 06/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

3- Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án để tính án phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ