vanban.org

Bản án 266/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 23/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.

Về trách nhi m hình sự: Tuyên bố bị cáo Đàm Quang M phạm tội “Trộm cắp tài sản . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đàm Quang M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 266/2021/HS-ST
Ngày 23-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hu .

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Kim Thu;

Ông Hồ Tấn Tài.

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Yến - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 211/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 288/2021/QĐXXST

- HS ngày 10 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Đàm Quang M , sinh năm 1982 tại tỉnh H; nơi thƣờng trú: Số 16 B, tổ 12, khu phố A, phƣờng P, quận S (nay là thành phố S), Thành phố H; chỗ ở: Số 244, quốc lộ 1K, phƣờng X, quận S (nay là thành phố S), Thành phố H; nghề nghi p: cơ khí; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Đàm Quang T, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1959; bị cáo có v tên Trƣơng Thị T, sinh năm 1992 (đã ly hôn); bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không có;

Nhân thân:

- Ngày 31/8/2005 bị Ủy ban nhân dân thành phố H ra Quyết định số 4029/QĐ-UBND đƣa vào Cơ sở cai nghi n ma túy X, chấp hành xong ngày 09/01/2009.

- Ngày 07/10/2010 bị Ủy ban nhân dân thành phố H ra Quyết định số 5701/QĐ-UBND đƣa vào Cơ sở cai nghi n ma túy X, chấp hành xong ngày 26/10/2012.

Ngày 25/01/2021 bị áp dụng bi n pháp ngăn chặn L nh Cấm đi khỏi nơi cƣ trú cho đến nay; Vắng mặt, bị cáo có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt theo đơn ngày 17 tháng 9 năm 2021.

Bị hại: Ông Lý Vân Đ, sinh năm 1979; nơi cƣ trú: Số 403 B, phƣờng N, Quận T, Thành phố H. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Ngƣời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ B, ngƣời đại di n h p pháp ông Bùi Lê Ngọc H, sinh năm 1977; nơi thƣờng trú: Số 43/11 khu phố L, phƣờng P, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

Người làm chứng: Trần Minh Dũng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣ c tóm tắt nhƣ sau:

Vào khoảng 06 giờ 00 phút ngày 17/01/2021, Đàm Quang M đi đến khu vực Nghĩa trang Lái Thiêu A thuộc khu phố B, phƣờng H, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng để bẫy chim, khi đi M có mang theo 01 (một) cây cƣa tay bằng kim loại. Đến nơi, M leo tƣờng rào vào bên trong nghĩa trang và đi xung quanh thì phát hi n 01 (một) cây mai đƣ c trồng trên 01 (một) ngôi mộ hàng 3 huy t 6 + 6 A lô 1, khu 2 có thân to, cao và đẹp nên nảy sinh ý định chiếm đoạt mang về nhà trồng. Thực hi n ý định trên, M nhìn xung quanh quan sát và thấy không có ai trông coi nên đã lén lút dùng cây cƣa bằng kim loại do M mang theo để cƣa các cành, rễ của cây mai, sau đó M dùng cây cƣa đào đất xung quanh gốc của cây mai và dùng tay nhổ cây mai lên rồi M vác cây mai vừa nhổ lên đƣ c ra hƣớng tƣờng rào tại vị trí lúc đầu M leo vào, để mang ra ngoài. Khi M đi đƣ c một đoạn thì bị ông Trần Minh D, là nhân viên chăm sóc mộ tại nghĩa trang Lái Thiêu A phát hi n nên đã giữ lại và đồng thời trình báo cho Công an phƣờng H tiếp nhận xử lý.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) cây cƣa bằng kim loại, màu sáng trắng, dài 42cm thu giữ của Đàm Quang M .

- 01 (một) cây mai kiểng có chu vi gốc 42 cm, cao 02 mét.

Tại Biên bản định giá tài sản và kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thuận An ngày 25/01/2021 kết luận 01 (một) cây mai kiểng có chu vi gốc 42 cm, cao 02 mét có giá trị 5.500.000 đồng (Năm tri u năm trăm ngàn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 223/CT-VKS-TA ngày 22 tháng 6 năm 2021 của Vi n kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Đàm Quang M về tội “Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại di n Vi n kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh nhƣ cáo trạng đã truy tố, phân tích tính chất, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đàm Quang M mức hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) cây mai kiểng là vật chứng trong vụ án, quá trình điều tra, xác định cây mai là tài sản thuộc sở hữu của ông Lý Vân Đ, mua vào năm 2006 và trồng trang trí trên mộ của cha ruột ông Đ tại hàng 3 huy t 6 + 6 A lô 1, khu 2 và do Ban quản lý của Nghĩa trang Lái Thiêu A quản lý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho ông Lý Vân Đ và Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ Bình Dƣơng quản lý Nghĩa trang Lái Thiêu A là có căn cứ. Ông Đ và đại di n Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ B không có yêu cầu gì khác.

Đối với 01 (một) cây cƣa bằng kim loại, màu sáng trắng, dài 42 cm thu giữ trong vụ án, quá trình điều tra xác định Đàm Quang M sử dụng làm công cụ thực hi n hành vi phạm tội, nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Quá trình điều tra, truy tố ông Lý Vân Đ; đại di n Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ B; Trần Minh D có lời khai phù h p với hành vi phạm tội của bị cáo. Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng gì nên không đặt ra xem xét.

Quá trình tố tụng, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Vi n kiểm sát truy tố. Bị cáo ăn năn hối cải và xin đƣ c giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã đƣ c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Bị cáo Đàm Quang M có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 17 tháng 9 năm 2021, đơn đƣ c lập tại Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng ngày 17 tháng 9 năm 2021. Xét thấy đây là yêu cầu tự nguy n của bị cáo, vi c vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho vi c xét xử, phù h p điểm c, d khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị cáo.

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc vi c truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hi n đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hi n là đúng quy định của pháp luật.

Quá trình tố tụng, bị cáo Đàm Quang M đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản nhƣ nội dung Cáo trạng của Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù h p với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Ngày 17/01/2021 tại Nghĩa trang Lái Thiêu A thuộc khu phố B, phƣờng H, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, Đàm Quang M có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) cây mai kiểng có trị giá 5.500.000 đồng của ông Lý Vân Đ do Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ B quản lý. Trong vụ án này, Đàm Quang M là ngƣời trực tiếp thực hi n hành vi phạm tội. Do đó, cáo trạng của Vi n kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, làm mất an ninh trật tự tại nơi bị cáo gây án. Bị cáo là ngƣời còn trẻ, có khả năng lao động lẽ ra bị cáo phải tìm cho mình một nghề nghi p ổn định, tích cực lao động để tạo ra của cải vật chất nuôi sống bản thân, chăm lo cho gia đình nhƣng vì tham lam, lƣời lao động mà bị cáo đã dấn thân vào con đƣờng phạm tội. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm để trừng trị và giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn di n về nhân thân, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị Ủy ban nhân dân thành phố H ra Quyết định đƣa vào Cơ sở cai nghi n ma túy nhƣng bị cáo không tu dƣỡng rèn luy n để lấy đó làm bài học, mà vẫn tiếp tục phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng h p ít nghiêm trọng. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Lời đề nghị của đại di n Vi n kiểm sát có căn cứ, đúng pháp luật nên đƣ c chấp nhận.

Về trách nhi m dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) cây cƣa bằng kim loại, màu sáng trắng, dài 42 cm thu giữ trong vụ án, bị cáo sử dụng làm công cụ thực hi n hành vi phạm tội, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

- Điều 106; Điều 136; điểm c, d khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.

1. Về trách nhi m hình sự:

Tuyên bố bị cáo Đàm Quang M phạm tội “Trộm cắp tài sản .

Xử phạt bị cáo Đàm Quang M 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây cƣa tay bằng kim loại, màu sáng trắng, dài 42cm (theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/6/2021 giữa Công an thành phố Thuận An và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng).

3. Về án phí: Bị cáo Đàm Quang M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo; bị hại; ngƣời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣ c quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣ c bản án hoặc kể từ ngày bản án đƣ c niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ