vanban.org

Bản án 265/2025/HS-PT — Hình sự

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/12/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn M, bị hại ông Nguyễn Văn T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2025/HS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/12/2024. Về án hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn M, bị hại ông Nguyễn Văn T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2025/HS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 265/2025/HS-PT
Ngày: 22/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đinh Phước Hoà

Các Thẩm phán: ông Phạm Tồn và bà Trần Thị Kim Liên

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Thành An, Thẩm tra viên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Quách Đức Dũng - Kiểm sát viên.

Vào ngày 22 tháng 12 năm 2025 tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 176/2025/TLPT-HS ngày 07 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Giết người” do có kháng cáo của bị cáo, bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2025/HS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Bị cáo kháng cáo:

Nguyễn Văn M; Sinh ngày: 05/10/1964, tỉnh Bình Định. Nơi thường trú và chỗ ở trước khi bị tạm giam: Tổ B, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai (nay là tổ B, phường A, tỉnh Gia Lai); Số CCCD: 052064001086, cấp ngày 04/4/2021; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Phan Thị N (đã chết); bị cáo có vợ là Huỳnh Thị L, có 02 con sinh năm 1997 và sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/12/2024 đến nay; có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn B: Ông Lương Ngọc P - Luật sư của Văn phòng L1, đoàn Luật sư tỉnh Gia Lai. Địa chỉ: C H, phường A, tỉnh Gia Lai; có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1971. Trú tại: Tổ A, phường A, tỉnh Gia Lai; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn M và ông Nguyễn Văn T là anh em cột chèo với nhau. Giữa M và ông T thường xuyên mâu thuẫn, tranh cãi với nhau liên quan đến việc đổ đá, xà bần lót đường.

Khoảng 17 giờ, ngày 24/10/2024, sau khi đã uống rượu, bia, ông T điều khiển xe máy đi cắt cỏ cho bò. Khi đi đến trước nhà M thuộc tổ B, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai (nay là tổ B, phường A, tỉnh Gia Lai), ông T lấy gạch, đá, xà bần lót đường trước nhà M ném vào bờ rào. M đang ở nhà uống rượu và hát karaoke, nhìn thấy ông T nên M đi ra nói chuyện rồi cả hai xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Bực tức, M đi vào bên hông nhà lấy 01 (một) tuýp sắt dạng ống trụ tròn rỗng dài 125cm, đường kính 4,2cm đi ra đứng đối diện, cách ông T khoảng 01m. Thấy vậy, ông T có lời lẽ thách thức nên M dùng hai tay cầm tuýp sắt giơ lên đánh 01 (một) cái theo hướng từ trên xuống, từ trái qua phải trúng vào phần đầu bên phải làm ông T quỵ xuống đường rồi M đi vào nhà. Ông T nằm ngoài đường tiếp tục chửi bới, thách thức thì M cầm tuýp sắt quay ra đứng đối diện, đưa tuýp sắt lên đánh 01 (một) cái vào cẳng chân phải của ông T, rồi M đi vào nhà.

Lúc xảy ra sự việc, bà Huỳnh Thị P1 (vợ của ông T) đang hốt lúa ở trước sân nhà (cách nhà M 50m) chứng kiến sự việc và chạy đến rồi gọi điện thoại cho ông Phạm Kim T1 (sinh năm 1972, là anh rể của bà P1) nhờ đưa ông T đến Trung tâm y tế thị xã A cấp cứu. Sau đó, chuyển xuống Bệnh viện đa khoa tỉnh B cấp cứu và điều trị đến ngày 02/11/2024 thì xuất viện.

Ngày 24/10/2024, ông Nguyễn Kim T2 trình báo sự việc đến Công an phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Ngày 30/10/2024, Công an phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai chuyển nguồn tin tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A, tỉnh Gia Lai để thụ lý giải quyết.

Ngày 26/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A, tỉnh Gia Lai ra Quyết định trưng cầu giám định số 740/QĐ-ĐTTT, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh G giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn T, cơ chế hình thành vết thương và vật gây thương tích. Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể sống số 552/LKTTCT-TTPY ngày 06/12/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh G, kết luận như sau:

“1. Các kết quả chính:

- Chấn thương vỡ xương vòm sọ vùng thái dương - chẩm phải kích thước 5,8cm, điện não đồ không có tổn thương tương ứng.

- Chấn thương gãy lún cả hai bản xương bản sọ vùng chẩm bên phải kích thước (2,6x3,4)cm, điện não không có ổ tổn thương tương ứng.

- Chấn thương vỡ dọc phần đá của xương thái dương bên phải đường vỡ kích thước 2,9cm, điện não không có ổ tổn thương tương ứng.

- Chấn thương sọ não gây dập - xuất huyết thùy thái dương - đỉnh phải gây hậu quả ổ tổn thương não có kích thước (2,2x3,1)cm.

- Chấn thương sọ não gây tụ máu ngoài màng cứng bán cầu não phải, tại thời điểm giám định còn hình ảnh tụ máu trên phim CT Scanner.

- Chấn thương gãy đầu dưới 2 xương cẳng chân phải trục thẳng, không ngắn chi.

2. Kết luận:

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể Nguyễn Văn T tại thời điểm giám định là 69% (Sáu mươi chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng lùi theo thông tư.

- Cơ chế hình thành thương tích: Do tác động trực tiếp.

- Vật gây thương tích: Phù hợp với sự tác động của vật tày. Vì vậy, 01 (một) ống hình trụ bằng kim loại trắng xám, rỗng ruột được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A trưng cầu là vật phù hợp để gây ra thương tích nêu trên cho ông Nguyễn Văn T.”

Tại Công văn số 05/TTPY-KGĐ ngày 08/01/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh G xác định tỷ lệ từng thương tích của Nguyễn Văn T như sau:

- Chấn thương vỡ xương vòm sọ vùng thái dương - chẩm phải kích thước 5,8cm, điện não đồ không có tổn thương tương ứng: 16%

- Chấn thương gãy lún cả hai bản xương bản sọ vùng chẩm bên phải đường vỡ kích thước (2,6x3,4) cm, điện não không có ổ tổn thương tương ứng: 21%.

- Chấn thương vỡ dọc phần đá của xương thái dương bên phải đường vỡ kích thước 2,9cm, điện não không có ổ tổn thương tương ứng: 8%.

- Chấn thương sọ não gây dập - xuất huyết thùy thái dương - đỉnh phải gây hậu quả ổ tổn thương não có kích thước (2,2x3,1) cm = 2,94cm: 26%.

- Chấn thương sọ não gây tụ máu ngoài màng cứng bán cầu nào phải, tại thời điểm giám định còn hình ảnh tụ máu trên phim CT Scanner: 16%.

- Chấn thương gãy đầu dưới 2 xương cẳng chân phải trục thẳng, không ngắn chi: 18%.

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể Nguyễn Văn T tại thời điểm giám định là 69%.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2025/HS-ST ngày 29/8/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai quyết định:

“1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Giết người”

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 15, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/12/2024”.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về phần án phí và thông báo quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/9/2025 bị cáo Nguyễn Văn M làm đơn kháng cáo với nội dung, xin giảm nhẹ hình phạt vì mức hình phạt quá cao.

Ngày 05/9/2025, bị hại ông Nguyễn Văn T làm đơn kháng cáo với nội dung, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo M.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo M và bị hại ông T đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm

Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng có ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là đúng quy định pháp luật, xét tính chất hành vi phạm tội thì bị cáo bị xử phạt 12 năm tù là phù hợp. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, người bị hại giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2025/HS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn M khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: khoảng 17h ngày 24/10/2024, do bực tức việc ông T lấy đá ném vào hàng rào nhà, Nguyễn Văn M đã lấy ống tuýp sắt đánh một nhát vào phần đầu làm ông T quỵ xuống đường, sau khi bị đánh ông T tiếp tục chửi bới nên bị cáo tiếp tục cầm ống tuýp ra đánh vào cẳng chân bị hại rồi vào nhà. Kết quả giám định tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn T là 69%. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tính chất hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống mà bị cáo lấy tuýp sắt (dài 125cm; đường kính 4,2cm) đánh vào đầu bị hại ông Nguyễn Văn T, khiến ông thanh bị thương với tỷ lệ 69%. Do đó, cần xử bị cáo với mức hình phạt thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục bị cáo cũng như ngăn ngừa loại tội phạm này tại địa phương. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường cho bị hại 45.000.000 đồng, bị hại xin giảm hình phạt, trong vụ án này bị hại có phần lỗi đã chửi bới, thách thức, bị cáo là người cao tuổi phạm tội để từ đó xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 12 năm tù là phù hợp.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn M và bị hại ông Nguyễn Văn T.

Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn M, bị hại ông Nguyễn Văn T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2025/HS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

1. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 15, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/12/2024.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12 /2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Về án hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2025/HS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ