vanban.org

Bản án 265/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Võ Kim L được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.

Về con chung: Anh M nuôi con tên Nguyễn Minh A1, sinh ngày 22/6/2008 hiện đang ở cùng anh. Về cấp dưỡng cho con anh M không yêu cầu, nên không giải quyết. Chị L có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi c…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Võ Kim L được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 265/2024/HNGĐ-ST
Ngày 24-6-2024
V/v tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Việt Xô.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Việt Thắng.

Ông Hồ Quang Minh.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Cẩm Hường là Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 257/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 254/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Kim L, sinh năm 1981 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1978 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Võ Kim L trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn M tự nguyện thành hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau vào năm 2004. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do có sự bất đồng quan điểm, lối sống, tính tình không hòa hợp nhau. Do không thể tiếp tục sống chung được nên chị yêu cầu ly hôn với anh M

Thời gian chung sống, chị và anh M có 02 con chung tên Nguyễn Nhựt A, sinh năm 2005 đã thành niên và Nguyễn Minh A1, sinh ngày 22/6/2008 hiện đang ở cùng anh M. Sau khi ly hôn, chị đồng ý giao Nguyễn Minh A1 cho anh M nuôi, chị không cấp dưỡng cho con; đối với Nhựt A không đặt ra yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Văn M trình bày: Anh và chị L tự nguyện thành hôn và có đăng ký kết hôn như chị L trình bày. Thời gian chung sống vợ chồng có cự cãi, nhưng mâu thuẫn không lớn, anh còn tình cảm vợ chồng với chị L, do chị L cương quyết ly hôn nên anh đồng ý.

Vợ chồng có 02 con chung như chị L trình bày, anh yêu cầu nuôi con tên Nguyễn Minh A1, không yêu cầu cấp dưỡng cho con, đối với Nguyễn Nhựt A không đặt ra yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Vụ việc theo yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn cư trú tại huyện T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh M có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập có hiệu lực, nên hôn nhân được xác định là hợp pháp. Thời gian chị L và anh M chung sống thực tế có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống, đôi bên không tự giải quyết được, làm cho cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Quá trình giải quyết vụ án, chị L xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh M, không thể tiếp tục sống chung được và cương quyết ly hôn với anh M, do chị L cương quyết ly hôn nên anh M đồng ý. Thực tế, đã có sự vi phạm nghiêm trọng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của chị L được ly hôn với anh M là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị L và anh M có 02 con chung, sau khi ly hôn chị L thống nhất giao con tên Nguyễn Minh A1 cho anh M nuôi theo yêu cầu của anh M và thực tế anh M đang trực tiếp nuôi con; đối với Nguyễn Nhựt A đã thành niên, anh chị không đặt ra yêu cầu, nên không giải quyết. Như vậy, các đương sự đã thỏa thuận được việc nuôi con và sự thỏa thuận của các đương sự không trái với quy định của pháp luật, căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận giao Nguyễn Minh A1 cho anh M nuôi là đúng theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng cho con, anh M không yêu cầu, nên không giải quyết.

Về tài sản chung: Chị L và anh M không yêu cầu, nên không giải quyết. Trường hợp sau này các đương sự có yêu cầu giải quyết sẽ yêu cầu bằng vụ kiện khác.

Về nợ chung: Chị L và anh M không yêu cầu, nên không giải quyết.

Về án phí: Chị L chịu theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Võ Kim L được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.

2. Về con chung: Anh M nuôi con tên Nguyễn Minh A1, sinh ngày 22/6/2008 hiện đang ở cùng anh. Về cấp dưỡng cho con anh M không yêu cầu, nên không giải quyết.

Chị L có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của anh M.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị L phải chịu 300.000 đồng, chị L đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004882 ngày 19/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được khấu trừ.

Đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ