vanban.org

Bản án 265/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Phạm Hữu L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Phạm Hữu L: 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/7/2023. Phạt bổ sung bị cáo Phạm Hữu L số tiền 15.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo L bị truy tố về tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Phạm Hữu L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 265/2023/HS-ST
Ngày: 22/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP. HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Hoàng Thu

Ông Phạm Văn Tuyền

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 279/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 285/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:

Phạm Hữu L; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 24/8/2003, tại: TP. Cần Thơ; Nơi đăng ký thường trú: Khu vực A, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ; Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: không rõ và bà Phạm Thị Thúy P; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt từ ngày 20/7/2023 (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ 10 phút ngày 20/7/2023, Công an xã Bình Hưng phối hợp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Bình Chánh kiểm tra Phạm Hữu L đang dừng xe mô tô biển số 65E1-524.04 trước sảnh M chung cư M1, Ấp A1, xã B, huyện B1, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua kiểm tra, Công an phát hiện trong túi da màu đen của L đang đeo trên người có 01 hộp giấy bên ngoài có chữ SNK-ELS7, bên trong có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu và 01 gói nylon bên ngoài có chữ CHALI bên trong có chứa chất bột. Số tinh thể không màu và chất bột này được L khai nhận là ma túy của L nhằm mục đích để bán kiếm lời. Do đó, lực lượng Công an đã tiến hành thu giữ vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L. Kết quả xét nghiệm, L có sử dụng ma túy. Sau đó, vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh để điều tra xử lý.

Tại bản kết luận giám định số 8022/KL-KTHS ngày 28/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 3,8345 gam, loại Ketamine. Bột màu cam được ký hiệu mẫu m2 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,6315 gam, loại Methamphetamine, MDMA.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Phạm Hữu L khai nhận: bản thân L nghiện ma túy, để có tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng, L nhận ma túy của người tên thường gọi là “Ông Chú” để giao cho người khác. Mỗi lần giao ma túy sẽ được trả công từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. L đã đi giao ma túy cho “Ông Chú” được 04 lần, cho 04 người (không rõ lai lịch). Trước khi đi giao ma túy, “Ông Chú” sẽ cho số điện thoại, địa điểm để L đến địa điểm gọi người mua ra nhận ma túy, cụ thể: vào tối ngày 20/7/2023, “Ông Chú” sử dụng số điện thoại 0933538814 gọi điện thoại qua Zalo, nói L đến địa chỉ: đường Đ, phường T, Quận J nhận ma túy đem đi bán cho người khác rồi thu 10.000.000 đồng mang về cho “Ông Chú”. Khoảng 21 giờ cùng ngày, L đến điểm hẹn và được “Ông Chú” hướng dẫn nhặt 01 hộp giấy ghi chữ SNK-ELS7 được để sẵn ở bồn hoa cặp đường nội bộ của chung cư Riverside Complex, L mở ra thì thấy bên trong có 02 gói ma túy dạng khay và 01 gói nước vui ghi chữ CHALI. L cất giữ số ma túy trên vào túi đeo màu đen đang mang trên người và điều khiển xe mô tô biển số 65E1-524.04 đến chung cư M1 thuộc Ấp A1, xã B để giao cho khách mua. Khi L đến trước sảnh M thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ:

- 01 túi da màu đen.

- Số tiền 11.000.000 đồng.

- 01 hộp giấy màu xanh, bên ngoài có chữ SNK-ELS7.

- 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 3,8345 gam, loại Ketamine.

- 01 gói nylon bên ngoài có chữ CHALI, bên trong chứa chất bột, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,6315 gam, loại Methamphetamine, MDMA.

- 01 xe mô tô biển số 65E1-524.04 của Phạm Hữu L.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone cùng 01 sim cắt, số thuê bao 0876320152 của Phạm Hữu L.

- 01 đĩa DVD chứa dữ liệu ghi hình có âm thanh lời khai Phạm Hữu L chuyển cùng hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 267/CT-VKS ngày 26/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố bị cáo Phạm Hữu L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Bị cáo Phạm Hữu L thừa nhận hành vi phạm tội, tự nhận thấy hành vi của mình là trái quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Hữu L về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng Khoản 1 Khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, để xử phạt bị cáo Phạm Hữu L từ 04 năm đến 05 năm tù, phạt bổ sung bị cáo Phạm Hữu L 10.000.000 đồng. Phần dân sự, vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định: Vào lúc 21 giờ 10 phút ngày 20/7/2023, tại trước sảnh MP1 chung cư Mizuki, Ấp 3A, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, Phạm Hữu L đã có hành vi cất giữ 02 gói ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 3,8345 gam, loại Ketamine và 01 gói ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,6315 gam, loại Methamphetamine, MDMA nhằm mục đích để bán thì bị bắt quả tang.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Hữu L đã phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tỷ lệ % Methamphetamine, MDMA theo điểm i khoản 2 Điều 251 được tính là: (1,6315 gram/5 gram) x 100% = 32,63%. Tỷ lệ % Ketamine theo điểm n khoản 2 Điều 251 được tính là: (3.8345gram/20 gram) x 100% = 19,1725%. Tổng tỷ lệ % các chất ma túy trên là 32,63% + 19,1725% = 51,8025% nhỏ hơn 100%. Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018 thì bị cáo Phạm Hữu L phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đối với người đàn ông tên thường gọi “Ông Chú” đưa ma túy cho L đi bán và 04 lần L mang ma túy đi bán cho 04 người (không rõ lai lịch), do không xác định được lai lịch, thời gian, địa điểm nên tiếp tục truy xét xử lý sau.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Xử lý vật chứng:

- 01 túi da màu đen: Bị cáo Phạm Hữu L dùng để cất giữ số ma túy, cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- Số tiền 11.000.000 đồng: Không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- 01 hộp giấy màu xanh, bên ngoài có chữ SNK-ELS7: Cần tịch thu tiêu hủy.

- 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 3,8345 gam, loại Ketamine: Cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 gói nylon bên ngoài có chữ CHALI, bên trong chứa chất bột, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,6315 gam, loại Methamphetamine, MDMA: Cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 xe mô tô biển số 65E1-524.04 của Phạm Hữu L: Bị cáo dùng để vận chuyển giao ma túy cho người mua, cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone cùng 01 sim cắt, số thuê bao 0876320152 của Phạm Hữu L: Dùng để liên hệ, giao nhận số ma túy cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- 01 đĩa DVD chứa dữ liệu ghi hình có âm thanh lời khai Phạm Hữu L: là chứng cứ trong vụ án nên tiếp tục lưu giữ cùng hồ sơ vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố Phạm Hữu L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”;

- Áp dụng Khoản 1 Khoản 5 Điều 251, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Phạm Hữu L: 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/7/2023.

Phạt bổ sung bị cáo Phạm Hữu L số tiền 15.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 túi da màu đen.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy màu xanh, bên ngoài có chữ SNK-ELS7.

+ Tịch thu tiêu hủy 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, là ma túy ở thể rắn, loại Ketamine.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon bên ngoài có chữ CHALI, bên trong chứa ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, MDMA.

+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe mô tô biển số 65E1-524.04.

+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone cùng 01 sim cắt, số thuê bao 0876320152.

(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 30/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh).

+ Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án Số tiền 11.000.000 đồng.

(Số tiền đang được gửi tại Tài khoản 3949.0.1054833.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn – Chi nhánh Nam TP. Hồ Chí Minh theo Giấy nộp tiền ngày 13/10/2023)

+ Tiếp tục lưu giữ cùng hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa dữ liệu ghi hình có âm thanh lời khai Phạm Hữu L.

- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Phạm Hữu L phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (ngày) kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.

Cỡ chữ