- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Tuyết T và đồng phạm - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? không chấp nhận kháng cáo của các cáo Nguyễn Th Tuyết T, Phạm Văn T2,
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 264/2024/HS-PT Ngày: 19-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cường
Các thẩm phán:
Ông Trương Minh Tuấn
Ông Đinh Phước Hoà
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Ngọc Gia Linh, Thư ký Tòa án nhân dân
cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh , Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm - trụ sở Toà án nhân
dân cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần - trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Nam, Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tiến hành xét xử phúc thẩm
trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 432 2023 T PT-HS ngày 20 tháng
9 năm 2023 đối v i cáo Nguyễn Th Tuyết T và đồng phạm về tội “Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản”. Do c kháng cáo của cáo, của hại đối v i Bản án hình
sự s thẩm số 62 2023 HS-ST ngày 08 8 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng
Nam.
B cáo c kháng cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Th Tuyết T; sinh năm 1985; Quê quán: thôn D, xã
T, huyện N, Quảng Nam; Chỗ ở hiện nay: Số E T, phường A, thành phố T, tỉnh
Quảng Nam; Trình độ học vấn: 12 12;Quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn
giáo: không; Nghề nghiệp trư c khi phạm tội: uôn án; Số CMND: 205272865
cấp ngày 03 7 2020, n i cấp CA tỉnh Q; Cha: Nguyễn Xuân H (sinh năm 1955),
mẹ: Võ Th Thu T1 (sinh năm 1955) cùng trú tại thôn D, xã T, huyện N, tỉnh
Quảng Nam. Gia đình cáo c 03 anh ch em, cáo là con thứ 02; c chồng là
Ngô Khắc Đ (sinh năm 1986), c 03 con, con l n nhất sinh năm 2013, con nhỏ
nhất sinh năm 2018.
Tiền án: Tại Bản án số 09 2015 HSST ngày 25 3 2015, Tòa án nhân
dân tỉnh Quảng Nam xử phạt 10 năm tù về tội “ ừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo
khoản 4 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tại Bản án số 229 2015 ngày
17 9 2015, Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xử phạt 10 năm tù về tội “ ừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999. B cáo đang được hoãn thi hành án theo Quyết đ nh hoãn chấp hành án phạt tù số 03 2019 QĐ-CA ngày 20 2 2019 của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, lý do hoãn: người kết án hiện đang nuôi con nhỏ dư i 36 tháng tuổi.
B cáo tạm giữ từ ngày 22 8 2020, chuyển tạm giam ngày 31 8 2020;
hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. C mặt.
2. Họ và tên: ê Th , sinh năm 1991; N i cư trú: thôn X, xã V, thành
phố N, tỉnh Khánh Hòa; Trình độ học vấn: 12 12; Quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Nghề nghiệp trư c khi phạm tội: uôn án; Số CMND: 22594884 cấp ngày 29 6 2020, n i cấp CA tỉnh K; Cha: ê Thành H1 (sinh năm 1973), mẹ: Võ Th B (sinh năm 1971), cùng trú tại: thành phố T, tỉnh Phú Yên; Gia đình cáo c 05 ch em, cáo là con đầu; c chồng là Nguyễn Minh D (sinh năm 1985), c một con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không.
B cáo tạm giữ từ ngày 25 8 2020, chuyển tạm giam ngày 03 9 2020;
hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. C mặt.
3. Họ và tên: Phạm Văn T2; Sinh ngày 26 9 1989, tại huyện P, tỉnh Quảng
Nam; N i thường trú: thôn A, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam; Gi i tính: nam; tên gọi khác: không c ; Trình độ học vấn: 09 12;Quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Nghề nghiệp trư c khi phạm tội: lái xe; Số CCCD: 049089004339, cấp ngày 23 9 2021; Cha: Phạm Nghi (đã chết), mẹ: Tôn Nữ Ngọc H2 (đã chết); Gia đình cáo c 05 anh ch em, cáo là con thứ 04; c vợ là Nguyễn Th T3 (sinh năm 1985), c hai con; Tiền án, tiền sự: không.
B cáo
ắt tạm giam ngày 21 11 2022; hiện đang tạm giam tại Trại
tạm giam Công an tỉnh Q. C mặt.
4. Họ và tên: Nguyễn Th Thanh T4; sinh năm 1993; N i cư trú: thôn ,
xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; Trình độ học vấn: 12 12; Quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Nghề nghiệp trư c khi phạm tội: nội trợ; Số CCCD: 049193004671 cấp ngày 28 9 2021, Đảng viên Đ1, đã x a tên trong danh sách đảng viên theo Quyết đ nh số 231-QĐ HU ngày 02 3 2021 của Huyện ủy N4; Cha: Nguyễn Thanh N (sinh năm 1967), mẹ: Trần Th S (sinh năm 1967) cùng trú tại: thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; Gia đình cáo c 03 anh ch em, cáo là con thứ 02; c chồng là Nguyễn Kim N1 (sinh năm 1992), c hai con. Tiền án, tiền sự: Không.
B cáo áp dụng iện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi n i cư trú. C mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Th Tuyết T theo yêu cầu của bị
cáo: Ông Nguyễn S1, Văn phòng 4, thuộc Đoàn uật sư tỉnh Q. Đ a chỉ: ô S, đường N, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, c mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo ê Th theo yêu cầu của bị cáo:
+ Ông Đoàn Văn M, Công ty 5 - chi nhánh Q2, thuộc Đoàn uật sư tỉnh
Q. Đ a chỉ: Số A T, th trấn H, huyện T, tỉnh Quảng Nam, c mặt.
+ Ông Bùi Xuân N2, Công ty 6, thuộc Đoàn uật sư thành phố Đ. Đ a
chỉ: Số I , phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn T2 theo yêu cầu của bị cáo: Bà
ưu Th 1, Văn phòng 7, thuộc Đoàn uật sư tỉnh Q. Đ a chỉ: Số B P,
phường P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, c mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Th Thanh T4 theo luật định: Ông
Nguyễn Văn B1 - Văn phòng L8, thuộc Đoàn uật sư tỉnh Q. Đ a chỉ: C T,
phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, c mặt.
- Người bào chữa theo yêu cầu của bị cáo Nguyễn Th Thanh T4: Ông
Phạm Ngọc H3, Văn Phòng uật sư Đồng Thông thuộc Đoàn uật sư thành phố
Đ; đ a chỉ: Số F H, phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng, c mặt.
- Bị hại có kháng cáo:
1. Bà Nguyễn Th Minh H4, sinh năm 1980. Đ a chỉ: Số H T, phường A,
thành phố T, tỉnh Quảng Nam, vắng.
2. Bà Nguyễn Th N3, sinh năm 1987. Đ a chỉ: Số A T, phường T, thành
phố T, tỉnh Quảng Nam, c mặt.
3. Ông Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1979. Đ a chỉ: Thôn T, xã T, thành phố
T, tỉnh Quảng Nam, vắng.
4. Bà Nguyễn Th P, sinh năm 1973. Đ a chỉ: ô A đường N, phường A,
thành phố T, tỉnh Quảng Nam, c mặt.
5. Bà Trần Th Hồng T5, sinh năm 1991. Đ a chỉ: Số E T, phường T,
thành phố T, tỉnh Quảng Nam, c mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Ngọc K: Ông
Ngô Thanh T6, Văn phòng 9, thuộc Đoàn uật sư tỉnh Q. Đ a chỉ: Số G P, th
trấn N, huyện N, tỉnh Quảng Nam, vắng.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại bà Nguyễn Th P:
Ông Bùi Bá D1, Văn phòng 10, thuộc Đoàn uật sư tỉnh Q. Đ a chỉ: D N,
thành phố T, tỉnh Quảng Nam, c mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ s vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được t m tắt như sau:
Năm 2015, Nguyễn Th Tuyết T Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xử
phạt 10 năm tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng được tạm hoãn
thời gian chấp hành hình phạt tù vì đang nuôi con nhỏ (dư i 36 tháng tuổi).
Trong thời gian được hoãn chấp hành án, T làm nghề uôn án hàng hải sản nhỏ lẻ tại thành phố T, tỉnh Quảng Nam. T mua hải sản từ ê Th để án lẻ v i giá tr các đ n hàng khoảng vài chục triệu đồng. Nhưng do làm ăn thua lỗ và để c tiền trả nợ cho những khoản vay trư c đ , Nguyễn Th Tuyết T đã nảy sinh ý nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác ằng cách đưa ra những thông tin gian dối để người hại tin tưởng thật và giao tài sản.
Vào khoảng tháng 6 năm 2019, Nguyễn Th Tuyết T đưa ra thông tin gian
dối là T đang uôn án hàng hải sản xuất khẩu v i số lượng l n và kêu gọi người khác đầu tư vốn để được hưởng lợi nhuận. T đưa thông tin là lấy nguồn hàng hải sản từ đầu mối là ê Th sau đ chuyển về án cho những người c tên H5, P1, Q (theo T thì những người này là các đầu mối thu mua hải sản số lượng lớn của T) để đưa đi xuất khẩu. Trinh kêu gọi người đầu tư tham gia g p vốn để T kinh doanh hải sản; căn cứ theo số tiền g p vốn, người đầu tư sẽ được T chia lợi nhuận không cố đ nh nhưng sẽ từ 10% đến 12% trên một đ n hàng, mỗi đ n hàng từ 03 đến 05 ngày (tính từ lúc đặt mua đến lúc bán lại). Ban đầu T đưa ra thông tin gian dối để kêu gọi số tiền đầu tư chỉ từ vài chục triệu đến vài trăm triệu từ ông Nguyễn Văn P2 (sinh năm 1986; trú thôn T, xã T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam), à Nguyễn Th Minh H4 (sinh năm 1980; trú phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam) và à Nguyễn Th N3 (sinh năm 1987; trú số A đường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam). T sử dụng số tiền chiếm đoạt được để chi trả cho các khoản nợ của mình, chi trả tiền lợi nhuận kinh doanh và một phần tiền vốn g p cho người đầu tư. Để c tiền chi trả thường xuyên cho người đầu tư, Nguyễn Th Tuyết T tiếp tục tạo dựng lên các đ n hàng hải sản không c thật v i giá tr của đ n hàng sau cao h n đ n hàng trư c để huy động số tiền đầu tư nhiều h n và kêu gọi được thêm nhiều người đầu tư. Việc trả lợi nhuận đầu tư của T cũng tăng lên nên nhiều người đã tin tưởng và tập trung tiền đầu tư cho T, trong đ c ông Nguyễn Ngọc K (sinh năm 1979; trú thôn T, xã T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam), à Nguyễn Th P (sinh năm 1973; trú phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam), ông Võ Tấn C (sinh năm 1984; trú phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam) và à Trần Th Hồng T5 (sinh năm 1991; trú phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam).
Để chiếm đoạt tiền của các hại, Nguyễn Th Tuyết T đã cấu kết v i ê
Th , Phạm Văn T2, Nguyễn Th Thanh T4 thực hiện hành vi lừa đảo như sau:
* Hành vi của Nguyễn Th Tuyết T cấu kết v i ê Th :
Để tạo được niềm tin cho người đầu tư, Nguyễn Th Tuyết T đã àn ạc
thống nhất v i ê Th lập nên 11 h a đ n án hàng hải sản v i nội dung không c thật và giá tr mỗi đ n từ vài chục tỷ đồng đến vài trăm tỷ đồng để giao cho người đầu tư xem; ê Th đứng ra xác nhận v i người đầu tư về việc L là nguồn cung cấp hải sản số lượng l n cho T và c các kho hàng hải sản đặt tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Đồng thời L còn trực tiếp nhận tiền đầu tư của những người g p vốn dư i hình thức nhận tiền án hải sản cho T theo các đ n đặt hàng giả mà T đã cung cấp cho người đầu tư xem, rồi chuyển tiền ngược lại cho T để T chiếm đoạt.
Trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, ê Th đã gặp, tiếp xúc v i
ông Nguyễn Ngọc K, Võ Tấn C, Nguyễn Văn P2 và à Nguyễn Th P để xác
nhận mình là người cung cấp hàng số lượng l n cho Nguyễn Th Tuyết T. L còn
đưa à Nguyễn Th P đến xem các kho hàng hải sản l n tại thành phố N và gi i
thiệu v i à P đ là kho hàng hải sản của L. Trư c các thông tin gian dối mà
Nguyễn Th Tuyết T và ê Th đưa ra, những người đầu tư đã hoàn toàn tin
tưởng và giao tiền đầu tư cho Nguyễn Th Tuyết T thông qua hình thức giao tiền
mặt đầu tư trực tiếp cho T; chuyển tiền đầu tư vào các tài khoản ngân hàng của
T (tài khoản đặt tại ngân hàng T13 số 19035399683016 - tài khoản đặt tại ngân
hàng Đ2) và chuyển tiền vào các tài khoản ngân hàng ê Th
(tài khoản đặt
tại ngân hàng T13 số 19029470528019 - tài khoản đặt tại ngân hàng Đ2). Trong
đ , v i danh nghĩa nhận tiền cung cấp hàng hải sản số lượng l n cho Nguyễn
Th Tuyết T, L trực tiếp nhận số tiền 264.420.000.000 đồng của Nguyễn Ngọc
K, Nguyễn Th P, Nguyễn Th Minh H4, Nguyễn Th N3, Trần Th Hồng T5, Võ
Tấn C và số tiền 140.000.000 đồng nhưng quá trình điều tra không xác đ nh của
hại nào. Sau khi nhận tiền, L trừ ra và thu về một phần tiền cho các khoản nợ
mua hàng hải sản nhỏ lẻ của T trên thực tế, phần tiền còn lại 247.574.000.000
đồng thì L chuyển cho T thông qua hệ thống ngân hàng để T chiếm đoạt. Cụ thể:
L chuyển số tiền 213.489.000.000 đồng đến các tài khoản ngân hàng của
Nguyễn Th Tuyết T; chuyển số tiền 34.085.000.000 đồng đến tài khoản ngân
hàng T13 mà Nguyễn Văn P2 giao cho T quản lý, sử dụng. Ngoài ra, L chuyển
hoàn tiền cho à P 10.000.000.000 đồng. Số tiền còn lại 6.846.000.000 đồng L
cất giữ và thống nhất cấn trừ 650.000.000 đồng tiền T mua hàng hải sản của L,
còn lại để sử dụng và tiêu xài. Quá trình khám xét đã thu giữ số tiền
500.000.000 đồng, số tiền này hiện đang được gửi tại tài khoản số
394909046395 của Phòng CSHS Công an tỉnh Q mở tại Kho ạc Nhà nư c tỉnh
Q.
Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Th Tuyết T cấu kết với ê Th lừa đảo
chiếm đoạt của các bị hại Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Th P, Nguyễn Th Minh
H4, Nguyễn Th N3, Trần Th Hồng T5, Võ Tấn C là 264.280.000.000 đồng.
* Hành vi của Nguyễn Th Tuyết T cấu kết v i Nguyễn Th Thanh T4:
Ngoài sự giúp sức của ê Th như nêu trên, để tạo niềm tin vững chắc
cho người g p vốn, Nguyễn Th Tuyết T đưa ra thông tin gian dối là đang kinh
doanh cung cấp hàng hải sản số lượng l n theo đ n đặt hàng của người mua c
tên H5 sinh sống tại thành phố H. T gi i thiệu v i à Nguyễn Th P và ông
Nguyễn Ngọc K là những người đầu tư tiền cho T để mua hải sản đối v i các
đ n đặt hàng giả do H5 đặt. Ban đầu các đ n đặt hàng giả c giá tr thấp nên
những người đầu tư không quan tâm đến đầu mối mua hàng mà chỉ tin tưởng
vào T và đầu mối cung cấp hàng ( ê Th ) để đầu tư tiền cho T thu mua các
mặt hàng hải sản theo đ n. Đến khoảng tháng 5 2020, để giữ niềm tin và c c
sở kêu gọi số tiền đầu tư, Nguyễn Th Tuyết T và Nguyễn Th Thanh T4 cùng
àn ạc thống nhất T4 đ ng giả thành người mua hàng hải sản của T v i tên gọi
là “H5” và T4 đồng ý. Sau đ , T tạo ra một nh m trò chuyện trên ứng dụng Z c tên “Hải Sản Hư ng Q1”, kết nối ông K cùng v i T4 và T vào nh m Zalo này. T đã yêu cầu T4 (v i tên H5) thường xuyên trao đổi đặt mua hàng hải sản của T qua nh m Z để ông K tin tưởng.
Vào khoảng giữa tháng 6 2020, khi à Nguyễn Th P thấy số tiền đầu tư
cho T quá l n và ắt đầu suy giảm niềm tin vào T, à P yêu cầu được tham gia quản lý việc kinh doanh hải sản của T, được tiếp xúc, trao đổi v i người mua hàng. Để à P tin tưởng tiếp tục đầu tư tiền cho T, T tiếp tục àn ạc, thống nhất v i Nguyễn Th Thanh T4 vẫn đ ng giả người mua hàng tên H5 để trực tiếp liên lạc, trao đổi đặt mua hàng hải sản số lượng l n v i à Nguyễn Th P. Từ tháng 6 2020 đến tháng 8 2020, T4 thường xuyên nhắn tin cho à P đặt mua hàng để à P tin tưởng c nguồn tiêu thụ và chuyển tiền cho L hoặc T để mua hàng về cung cấp cho T4. Nguyễn Th Thanh T4 (v i tên H5) đã nhắn tin đặt mua 02 đ n hàng hải sản của à Nguyễn Th P v i tổng giá tr là 55.000.000.000 đồng, cụ thể:
+ Đ n hàng thứ nhất: vào giữa tháng 6 2020, Nguyễn Th Tuyết T thông
áo v i à Nguyễn Th P đã nhận một đ n đặt hàng hải sản c giá tr 17.000.000.000 đồng từ người mua c tên là H5 và yêu cầu à P đầu tư tiền để T kinh doanh. Khi à P yêu cầu được tiếp xúc, trao đổi v i H5 về nội dung đ n hàng và giá cả thì T đã gi i thiệu à P tiếp xúc v i Nguyễn Th Thanh T4 (v i tên gọi là H5). Theo sự hư ng dẫn của T, T4 đã nhắn tin trao đổi nhiều nội dung mua án hàng hải sản v i à Nguyễn Th P qua ứng dụng Zalo. Qua trao đổi, à P tin tưởng T4 là người đặt mua hàng hải sản số lượng l n của Nguyễn Th Tuyết T. Bà P đã đồng ý đầu tư tiền cho T kinh doanh đ n hàng trên. Từ ngày 09 6 2020 đến ngày 12 6 2020, à Nguyễn Th P đã đầu tư số tiền 14.000.000.000 đồng để T thu mua hải sản về cung cấp theo đ n đặt hàng của T4. Số tiền đầu tư được à P chuyển vào cho ê Th (qua tài khoản Ngân hàng T13 số 19029470528019), sau đ L chuyển số tiền nêu trên về cho Nguyễn Th Tuyết T và T chiếm đoạt toàn ộ số tiền này.
+ Đ n hàng thứ hai: vào ngày 04 8 2020, theo yêu cầu của T, Nguyễn Th
Thanh T4 trực tiếp đặt mua v i à Nguyễn Th P đ n hàng hải sản thứ hai v i giá tr 38.000.000.000 đồng. Theo sự hư ng dẫn của T, T4 đã chủ động nhắn tin đặt mua hàng hải sản và trao đổi trực tiếp v i à P về các nội dung mua án. Đối v i đ n hàng này, à P yêu cầu T4 phải đặt cọc 10.000.000.000 đồng và phải chuyển tiền trực tiếp cho à P. Sau khi àn ạc, trao đổi v i Nguyễn Th Tuyết T thì T4 đã nhắn tin đồng ý v i điều kiện của à P và xin đặt cọc trư c v i số tiền 3.000.000.000 đồng. T đã chuyển số tiền 3.000.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng Đ2 (số tài khoản 0109003751) của mình sang tài khoản ngân hàng Đ2 (số tài khoản 0111104257) của T4; sau đ T4 đưa thẻ ATM của T4 cho T để T t i cây ATM chuyển tiếp số tiền 3.000.000.000 đồng nêu trên đến tài khoản ngân hàng Đ2 (số tài khoản 0107805212) của à P để đặt cọc theo thỏa thuận. Sau khi nhận tiền đặt cọc, à P hoàn toàn tin tưởng và đồng ý sẽ tiếp tục đầu tư thêm vốn để T thu mua hải sản từ ê Th về cung cấp cho đ n đặt hàng thứ hai của T4. Đối v i số tiền 3.000.000.000 đồng à P nhận đặt cọc, à P cũng đã
chuyển cho T để T kinh doanh đ n hàng này. Tiếp đến ngày 05 8 2020, à P
tiếp tục chuyển vào tài khoản của ê Th số tiền 9.000.000.000 đồng để đầu tư
cùng T mua đ n hàng trên.
Như vậy, từ tháng 6/2020 đến tháng 8/2020, Nguyễn Th Thanh T4,
Nguyễn Th Tuyết T đã cấu kết chiếm đoạt của bà Nguyễn Th P số tiền đầu tư
là 23.000.000.000 đồng. Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, Nguyễn Th
Thanh T4 đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình.
* Hành vi của Nguyễn Th Tuyết T cấu kết v i Phạm Văn T2:
Ngoài việc cấu kết v i ê Th , Nguyễn Th Thanh T4, T còn àn ạc,
thống nhất v i Phạm Văn T2 (sinh năm 1989, trú tại thôn A, xã T, huyện P, tỉnh
Quảng Nam) đ ng giả thành người mua hàng hải sản số lượng l n nhắn tin, gọi
điện xác nhận v i à Nguyễn Th P nhằm tạo niềm tin để huy động vốn và
chiếm đoạt tiền đầu tư, cụ thể:
Vào thời điểm an đầu khi kêu gọi tiền đầu tư của à Nguyễn Th P,
Nguyễn Th Tuyết T đã đưa ra thông tin gian dối đang kinh doanh cung cấp
hàng hải sản số lượng l n theo đ n đặt hàng của người tên Q sinh sống tại thành
phố Đà Nẵng. Thời điểm này, T kêu gọi lượng tiền đầu tư nhỏ nên chỉ thông áo
cho à P về các đ n đặt hàng giả do T tự tạo ra để huy động vốn. Nhưng do
chậm trễ trong việc xoay vòng vốn đầu tư của những người đầu tư khác để lấy
tiền trả lợi nhuận cho à P, T đã n i v i à P đầu mối mua hàng hải sản tên Q
chưa thanh toán tiền đ n hàng. Tháng 11 2019, à P yêu cầu được kết nối trao
đổi v i người mua hàng tên Q hối thúc việc trả nợ. T đã liên hệ thống nhất v i
Phạm Văn T2 (lai lịch nêu trên) đ ng giả thành đầu mối mua hàng hải sản số
lượng l n v i tên là Q, trực tiếp xác nhận v i à P và trao đổi xin hoãn thời gian
trả tiền thanh toán đ n hàng. Đối v i Phạm Văn T2, sau khi àn ạc, thống nhất
v i T và được T hứa hẹn thường xuyên cung cấp tiền để tiêu xài, T2 đã đồng ý
thực hiện theo yêu cầu và hư ng dẫn của T. Để tạo điều kiện cho T2 thực hiện
hành vi, T đã mua thêm cho T2 một điện thoại di động cảm ứng hiệu OPPO màu
trắng v i giá khoảng 1,5 triệu đồng (hiện điện thoại này T2 đã làm mất vào giữa
năm 2020) và 01 (một) sim thuê ao rác số 0766591746 để T2 sử dụng liên hệ
v i ch P (T2 sử dụng 02 điện thoại, một điện thoại nêu trên và một điện thoại
hiệu VIETEL đời cũ của T2). Dư i sự sắp xếp, hư ng dẫn của Nguyễn Th
Tuyết T, T2 đã đ ng giả người mua hàng hải sản số lượng l n tên Q, sử dụng số
điện thoại 0708392491 (số điện thoại Thái đăng ký chủ sở hữu) và số điện thoại
0766591746 để gọi điện, nhắn tin đến số điện thoại 0905830172 của à Nguyễn
Th P nhiều lần, xác nhận là đầu mối mua hàng hải sản của T và xin hoãn thời
gian thanh toán tiền cho đ n hàng mà T đã sử dụng để huy động vốn đầu tư (số
tiền 500.000.000đ). Tuy nhiên, việc khất nợ liên tục kéo dài, à P đã yêu cầu T
dừng kinh doanh các đ n hàng hải sản của đầu mối tên Q.
Để tiếp tục chiếm đoạt tiền của à P, T tự tạo ra các đ n đặt hàng hải sản
số lượng l n khác v i tên đầu mối mua hàng là “P”. T gi i thiệu v i à P về đầu
mối mua hàng hải sản này và giao ra các đ n đặt hàng giả cho à P xem để huy
động tiền đầu tư. Cuối tháng 12 2019, T đề ngh à P đầu tư cho T số tiền 500.000.000 đồng để thu mua hải sản về cung cấp cho đ n hàng của P1 và à P đã đồng ý. Khi à P yêu cầu T kết nối v i P1 để à P trao đổi việc thanh toán đ n hàng, T tiếp tục hư ng dẫn Phạm Văn T2 đ ng giả đầu mối tên P1, sử dụng 02 (hai) số điện thoại 0763639002, 0762604280 (số thuê bao rác, T mua để tạo điều kiện cho T2 thực hiện hành vi) gọi điện, nhắn tin đến số điện thoại của à P, xác nhận là đầu mối mua hàng tên P1 và trao đổi v i à P về thời gian thanh toán tiền cho đ n hàng để tạo niềm tin cho à P vào việc kinh doanh của T. ần khất nợ này, T đã giao trả cho à P số tiền đầu tư đúng hẹn nên à P tin tưởng và đồng ý tiếp tục đầu tư tiền cho T kinh doanh các đ n đặt hàng hải sản sau của đầu mối mua hàng tên P1. Từ sau đ n hàng nêu trên đến tháng 8 2020, Nguyễn Th Tuyết T đã tạo ra 13 đ n đặt hàng giả đứng tên người mua là P1 v i tổng giá tr là 64.550.000.000 đồng và giao cho à P xem để huy động tổng số tiền đầu tư là 27.800.000.000 đồng và T chiếm đoạt toàn ộ số tiền đầu tư này. Cụ thể: Nguyễn Th Tuyết T đã lập ra tổng cộng 05 Bảng thống kê đ n hàng đứng tên P1 gồm: “phát 5”, “phát 28”, “phát 26”, “phát 25, “phát 23” trên máy tính cá nhân của T. Các đ n hàng T sử dụng huy động vốn của à P được T thống kê trong các Bảng kê nêu trên và gởi cho à P qua G để à P quản lý, theo dõi và đầu tư tiền. Trong các Bảng kê c nêu chi tiết từng đ n đặt hàng cụ thể như sau:
- Bảng kê “phát 5” được lập ngày 09 6 2020, c tổng cộng 03 đ n hàng
v i tổng giá tr là 21.500.000.000đ. Nguyễn Th Tuyết T đã sử dụng các đ n hàng này để huy động của ch P số tiền đầu tư là 9.000.000.000 đồng.
- Bảng kê “phát 28” được lập ngày 08 6 2020, c tổng cộng 03 đ n hàng
v i tổng giá tr là 17.650.000.000 đồng. Nguyễn Th Tuyết T đã sử dụng các đ n hàng này để huy động của à P số tiền đầu tư là 8.000.000.000 đồng.
- Bảng kê “phát 26” được T gởi mail cho à P vào ngày 25 5 2020, c
tổng cộng 03 đ n hàng v i tổng giá tr là 11.900.000.000đ. Nguyễn Th Tuyết T đã sử dụng các đ n hàng này để huy động của à P số tiền đầu tư là 5.000.000.000 đồng.
- Bảng kê “phát 25” được T gởi mail cho à P vào ngày 25 5 2020, c
tổng cộng 03 đ n hàng v i tổng giá tr là 11.900.000.000đ. Nguyễn Th Tuyết T đã sử dụng các đ n hàng này để huy động của à P số tiền đầu tư là 5.000.000.000 đồng.
- Bảng kê “phát 23” được T gởi mail cho à P vào ngày 24 5 2020, c 01
đ n hàng v i giá tr là 1.600.000.000đ. Nguyễn Th Tuyết T đã sử dụng đ n hàng này để huy động của à P số tiền đầu tư là 800.000.000 đồng.
Trong suốt khoảng thời gian sử dụng đ n hàng đứng tên P1 để huy động
vốn, T luôn phối hợp, hư ng dẫn Phạm Văn T2 đ ng giả người tên P1, thường xuyên liên hệ v i à Nguyễn Th P để trao đổi việc mua, án hải sản và xin hoãn thời gian thanh toán tiền đ n hàng mỗi khi T cần. Ngoài ra, T2 còn đ ng giả đầu mối mua hàng tên P1, đi cùng T đến quán C1 (trên đường N, thành phố T), giả vờ trao đổi, khất nợ việc thanh toán tiền mua hàng v i T để à P từ xa quan sát, nhằm tạo niềm tin cho à P về việc kinh doanh hải sản của T. Quá trình thực
hiện hành vi giúp Nguyễn Th Tuyết T, Phạm Văn T2 được T giao số tiền
5.500.000 đồng. Số tiền này được T chuyển khoản đến tài khoản ngân hàng S2
số 040096944235 của T2 và tài khoản ngân hàng Đ2 đứng tên chủ sở hữu
Nguyễn Văn D2, là ạn của T2.
Quá trình điều tra vụ án, C quan CSĐT Công an tỉnh Q đã thu thập l ch
sử cuộc gọi, tin nhắn của 04 số điện thoại 0708392491, 0766591746,
0763639002, 0762604280 mà T2 đã sử dụng. Qua kiểm tra, xác đ nh: từ ngày
19 11 2019 đến ngày 18 8 2020, cả 04 số điện thoại nêu trên đều phát sinh cuộc
gọi, tin nhắn đến số điện thoại 0905830172 của à Nguyễn Th P và đều được sử
dụng trên các điện thoại c dãy số IMEI lần lượt là 869125022080390,
355752102606150, 355752104606150. Ngoài ra, C quan CSĐT Công an tỉnh
Q còn thu thập được trên máy điện thoại hiệu OPPO A5 màu trắng của Nguyễn
Th Tuyết T 16 file ghi âm cuộc gọi giữa T (sử dụng số điện thoại 0935569590)
và Phạm Văn T2 (sử dụng các số điện thoại nêu trên) c nội dung T trao đổi,
àn ạc, hư ng dẫn Phạm Văn T2 thực hiện hành vi đ ng giả làm người mua
hàng hải sản tên Q và P1 giúp T. Các đoạn ghi âm cuộc gọi này được đối chiếu
và trùng kh p v i l ch sử cuộc gọi của 04 số điện thoại nêu trên. Qua làm việc,
cả T và T2 đều thừa nhận về nội dung các cuộc điện thoại này.
Ngày 20 4 2022, C quan CSĐT Công an tỉnh Q ra Quyết đ nh trưng cầu
giám đ nh số 57 QĐ-CSHS(Đ4) xác đ nh tiếng n i của người trong 16 file ghi
âm cuộc gọi nêu trên. Ngày 26 7 2022, V Bộ C2 c Bản Kết luận giám đ nh số
2529/KL-KTHS xác đ nh: “Tiếng nói của người phụ nữ trong mẫu cần giám
định (16 file ghi âm cuộc gọi) và tiếng nói của Nguyễn Th Tuyết T trong mẫu
so sánh là của cùng một người. Tiếng nói của người đàn ông trong mẫu cần
giám định (16 file ghi âm cuộc gọi) và tiếng nói của Phạm Văn T2 trong mẫu so
sánh là của cùng một người”.
Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Th Tuyết T cấu kết v i Phạm Văn T2 thực
hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt của à Nguyễn Th P là 27.800.000.000 đồng.
Ngoài ra, T còn nhờ Nguyễn Thanh P3 (sinh năm 2002, trú thôn D, xã T,
huyện N, tỉnh Quảng Nam) sử dụng tài khoản Zalo c tên “Nguyễn Thanh P3”
nhắn tin đặt mua hàng hải sản v i T theo hư ng dẫn và yêu cầu của T. Về nội
dung các tin nhắn đặt mua hàng hải sản của Nguyễn Thanh P3, T soạn nội dung,
sau đ sử dụng tài khoản face ook c tên “H2 Bỉ Ngạn” của mình để gửi đến tài
khoản face ook c tên “Nguyễn Thanh P3” cho P3 rồi yêu cầu P3 copy lại, sử
dụng Zalo của P3 nhắn tin đặt hàng v i T.
* Quá trình điều tra xác đ nh tổng số tiền mà các hại chuyển cho
Nguyễn Th Tuyết T và T chiếm đoạt là: 405.692.000.000 đồng, trong đ c
402.492.000.000 đồng được chuyển khoản thông qua hệ thống ngân hàng
(chuyển vào tài khoản của Nguyễn Th Tuyết T là 122.582.000.000 đồng, tài
khoản của ông Nguyễn Văn P2 là 15.630.000.000 đồng, ông P2 đưa tài khoản
này cho T, T dùng để nhận tiền đầu tư của ông P2 và ông Nguyễn Ngọc K ằng
cách nộp tiền và chuyển tiền vào tài khoản); chuyển vào tài khoản của ê Th
v i số tiền 264.280.000.000 đồng và 3.200.000.000 đồng được nhận dư i hình thức giao tiền mặt. Cụ thể số tiền các hại lừa đảo chiếm đoạt như sau:
+ Ông Nguyễn Ngọc K chuyển khoản tổng số tiền là 167.723.000.000
đồng; trong đ , ông K chuyển cho T là 34.213.000.000 đồng (thông qua các tài khoản ngân hàng của T và ông P2), chuyển cho ê Th là 133.510.000.000 đồng. Ngoài ra, T còn nhận của ông Nguyễn Ngọc K số tiền mặt là 1.000.000.000 đồng thông qua hai lượt đầu tư. Tổng số tiền ông K chuyển cho T là 168.723.000.000 đồng.
+ Bà Nguyễn Th P chuyển khoản tổng số tiền là 105.136.000 đồng; trong
đ , chuyển cho T là 4.749.000.000 đồng; chuyển cho ê Th
là 100.387.000.000 đồng. Ngoài ra T còn nhận của à P số tiền mặt là 1.100.000.000 đồng thông qua a lượt đầu tư. Tổng số tiền à P chuyển cho T là 106.236.000.000 đồng.
+ Ông Nguyễn Văn P2 đã chuyển tiền cho T thông qua hình thức nộp tiền
mặt vào tài khoản T13 mà ông P2 đã giao cho T v i số tiền 12.230.000.000 đồng. Ngoài ra, T còn nhận của ông P2 số tiền mặt là 1.100.000.000 đồng thông qua hai lượt đầu tư. Tổng số tiền ông P2 chuyển cho T là 13.330.000.000 đồng.
+ Bà Nguyễn Th N3 chuyển khoản tổng số tiền là 5.746.000.000 đồng;
trong đ , chuyển cho T là 5.696.000.000 đồng; chuyển cho ê Th là 50.000.000 đồng.
+ Bà Nguyễn Th Minh H4 chuyển khoản tổng số tiền là 25.589.000.000
đồng; trong đ , chuyển cho T là 21.548.000.000 đồng; chuyển cho ê Th là 4.041.000.000 đồng.
+ Bà Trần Th Hồng T5 chuyển khoản tổng số tiền là 78.428.000.000
đồng; trong đ , chuyển cho T là 53.636.000.000 đồng; chuyển cho ê Th là 24.792.000.000 đồng.
+ Ông Võ Tấn C chuyển khoản tổng số tiền là 7.640.000.000 đồng; trong
đ , chuyển cho T là 6.140.000.000 đồng; chuyển cho ê Th là 1.500.000.000 đồng.
Ngoài ra, T còn nhận số tiền chuyển khoản 2.200.000.000 đồng, trong đ
nhận ằng tài khoản của T là 2.060.000.000 đồng và nhận ằng tài khoản của L là 140.000.000 đồng nhưng không xác đ nh được của hại nào. Do đ , việc C quan điều tra quy kết T chiếm đoạt số tiền này là không c c sở.
Riêng đối v i à Nguyễn Th N3, T khai nhận c nhận tiền mặt đầu tư của
à N3 nhưng không nh rõ số tiền là ao nhiêu. Đối v i à Nguyễn Th Minh H4, Trần Th Hồng T5 và ông Võ Tấn C, Nguyễn Th Tuyết T khai không nhận tiền mặt đầu tư của những người này. Những hại trên cũng xác nhận không thể nh cụ thể số tiền mặt mà họ đã giao cho Nguyễn Th Tuyết T vì việc giao, nhận tiền giữa họ v i T đều thông qua thỏa thuận lời n i, không c tài liệu, chứng cứ nào thể hiện về số tiền đầu tư dư i hình thức này nên không c c sở để quy kết.
Trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, để hại tin tưởng việc làm
ăn c lợi nhuận và tiếp tục đầu tư thì Nguyễn Th Tuyết T liên tục huy động vốn đầu tư của người này để chi trả tiền lợi nhuận và một phần tiền gốc cho người
kia và ngược lại. Số tiền Nguyễn Th Tuyết T đã chi trả cho các hại là
375.065.000.000 đồng, trong đ c 371.865.000.000 đồng được chi trả thông
qua hệ thống ngân hàng và 3.200.000.000 đồng được chi trả dư i hình thức giao
tiền mặt, cụ thể như sau:
+ Trinh chi trả cho ông Nguyễn Ngọc K tổng số tiền là 109.902.000.000
đồng, trong đ : T sử dụng tài khoản ngân hàng của mình để chuyển cho ông K
số tiền là 78.034.000.000 đồng; sử dụng tài khoản T13 của Nguyễn Văn P2
chuyển cho ông K số tiền là 4.368.000.000 đồng. Ngoài ra, T còn mượn tài
khoản Đông Á số 0111264196 của Nguyễn Văn P2 để thực hiện giao d ch
chuyển trả cho ông K số tiền là 26.500.000.000 đồng (T chuyển tiền từ tài khoản
ngân hàng Đ2 của mình sang tài khoản ngân hàng Đ2 của Nguyễn Văn P2 rồi
thực hiện giao dịch chuyển tiền từ tài khoản Nguyễn Văn P2 sang trả cho ông
Nguyễn Ngọc K). Trinh trả ằng tiền mặt cho ông K số tiền 1.000.000.000
đồng.
+ Trinh chi trả cho à Nguyễn Th P tổng số tiền là 90.951.000.000 đồng,
trong đ : T sử dụng tài khoản ngân hàng của mình để chuyển trả cho à P số
tiền là 67.473.000.000 đồng; sử dụng tài khoản T13 của Nguyễn Văn P2 chuyển
trả cho à P số tiền là 12.378.000.000 đồng; yêu cầu ê Th chuyển trả cho à
P 10.000.000.000 đồng dư i hình thức hồi tiền thanh toán đ n hàng (trả lại tiền
mua hàng). Trinh trả ằng tiền mặt cho à P số tiền 1.100.000.000 đồng.
+ Trinh chi trả cho ông Nguyễn Văn P2 tổng số tiền là 37.345.000.000
đồng ằng cách giao tài khoản T13 (tài khoản ngân hàng mà P2 đã cho T mượn)
để P2 trực tiếp rút số tiền là 31.695.000.000 đồng; T chuyển số tiền 250.000.000
đồng cho ông Ngô Trần Tấn H6 (người cho anh P2 vay tiền để đầu tư); chuyển
sang tài khoản ngân hàng Đ2 của ông P2 số tiền 4.300.000.000 đồng. Trinh trả
ằng tiền mặt cho ông P2 số tiền 1.100.000.000 đồng.
+ T sử dụng tài khoản ngân hàng của mình chuyển trả cho à Nguyễn Th
Minh H4 tổng số tiền là 27.389.000.000 đồng.
+ Trinh chi trả cho ch Nguyễn Th N3 tổng số tiền là 12.817.000.000
đồng trong đ : T sử dụng tài khoản ngân hàng của mình để chuyển trả cho à
N3 số tiền là 12.117.000.000 đồng; sử dụng tài khoản T13 của Nguyễn Văn P2
chuyển trả cho à N3 số tiền là 700.000.000 đồng.
+ Trinh chi trả cho à Trần Th Hồng T5 tổng số tiền là 83.628.000.000
đồng trong đ , T sử dụng tài khoản ngân hàng của mình để chuyển trả cho à T5
số tiền là 80.828.000.000 đồng; sử dụng tài khoản T13 của Nguyễn Văn P2
chuyển trả cho à T5 số tiền là 2.800.000.000 đồng.
+ Trinh chi trả cho ông Võ Tấn C tổng số tiền là 13.033.000.000 đồng
trong đ , T sử dụng tài khoản ngân hàng của mình để chuyển trả cho ông C số
tiền là 10.802.000.000 đồng; sử dụng tài khoản T13 của Nguyễn Văn P2 chuyển
trả cho ông C số tiền là 2.231.000.000 đồng.
Ngoài việc chi trả tiền cho các hại nêu trên, Nguyễn Th Tuyết T còn
chuyển cho Nguyễn Đắc K1 số tiền là 15.800.000.000 đồng. Theo lời khai của
Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Văn P2, Nguyễn Đắc K1 thì đây là tiền gốc và tiền lợi
nhuận mà K1 nhận từ tiền g p vốn v i K để mua án hải sản. K và P2 yêu cầu T trả khoản tiền này cho K1, cụ thể: 10.000.000.000 đồng được T chuyển trả cho Nguyễn Đắc K1 ằng tài khoản Đông Á của Nguyễn Văn P2; 1.800.000.000 đồng Trinh chuyển cho Nguyễn Đắc K1 ằng tiền trong tài khoản T13 của anh P2. Việc T chuyển tiền cho Nguyễn Đắc K1 nêu trên đều theo yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc K và Nguyễn Văn P2. Số tiền còn lại 4.000.000.000 đồng Trinh chuyển từ tài khoản ngân hàng của mình sang cho Nguyễn Đắc K1.
Sau khi chi trả cho người hại và anh Nguyễn Đắc K1, số tiền còn lại
17.027.000.000 đồng, Nguyễn Th Tuyết T và ê Th sử dụng, cụ thể như sau:
- Đối v i ê Th : số tiền 264.420.000.000 đồng mà ê Th đã trực
tiếp nhận từ người đầu tư, L chuyển lại cho Nguyễn Th Tuyết T 247.574.000.000 đồng; chuyển hoàn tiền đầu tư cho à Nguyễn Th P 10.000.000.000 đồng; còn lại 6.846.000.000 đồng, L cất giữ để sử dụng.
- Đối v i Nguyễn Th Tuyết T, sau khi sử dụng số tiền chiếm đoạt được
chi trả lợi nhuận và một phần tiền gốc cho người đầu tư, số tiền còn lại 10.181.000.000 đồng, T tiêu xài và sử dụng như sau:
+ Tháng 3 2020, vợ chồng ông Nguyễn Ngọc K và à Trần Th 2 cùng
v i Nguyễn Th Tuyết T mua lại ngôi nhà số A đường , thành phố T, tỉnh Quảng Nam để mở cửa hàng mua án hàng hải sản lẻ. Trinh chi số tiền 800.000.000 đồng c được từ hành vi phạm tội để mua ngôi nhà nêu trên và chi thêm 100.000.000 đồng để tu ổ sửa chữa lại thành cửa hàng mua án hải sản. Ngôi nhà được mua v i giá 3,1 tỷ đồng, trong đ ngân hàng A chi nhánh T14 hỗ trợ cho vay số tiền là 2,3 tỷ đồng (Hợp đồng tín dụng số 4201-LAV-202000154); số tiền còn lại 800 triệu đồng, T và vợ chồng K chia mỗi ên một nửa để chung mua. Tuy nhiên, ông K không trực tiếp g p tiền mà yêu cầu T chi từ nguồn tiền lợi nhuận đầu tư của K mà T đang cất giữ. Ngôi nhà được T và K thống nhất để vợ chồng K đứng tên sở hữu. Do đ số tiền 900.000.000 đồng (trong đ 800.000.000 đồng để mua nhà và 100.000.000 đồng sửa chữa nhà) là tiền T lừa đảo chiếm đoạt của các hại (trong đ c ông K, ông P2) mà c .
+ Tháng 6 2020, Nguyễn Th Tuyết T sử dụng 2.400.000.000 đồng từ số
tiền chiếm đoạt để mua căn nhà số E đường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam của vợ chồng à ê Th Thanh T7 và giao cho Nguyễn Văn P2 đứng tên chủ sở hữu.
+ Từ tháng 7 2020 đến tháng 8 2020, Nguyễn Th Tuyết T sử dụng
1.500.000.000 đồng từ số tiền chiếm đoạt, giao cho anh Nguyễn Văn P2 mua hai thửa đất tại thôn T, xã T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam theo yêu cầu của ông P2. Hai thửa đất này sau đ được ông P2 nhờ cha của mình là ông Nguyễn P4 (sinh năm 1963) và em trai là Nguyễn Thanh T8 (sinh năm 2001), cùng trú thôn T, xã T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam đứng tên sở hữu.
Tại B n án h nh s s thẩm s
H - T ngày
c a Tòa án nhân dân t nh Qu ng Nam đ uy t đ nh:
1. Về trách nhiệm hình sự:
1.1. Tuyên ố: B cáo Nguyễn Th Tuyết T, ê Th , Nguyễn Th Thanh
T4, Phạm Văn T2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
1.2. Về hình phạt:
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm a, h, g khoản 1 Điều 52; Điều 56 và Điều 39 của Bộ luật Hình sự năm 2015
(sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt cáo Nguyễn Th Tuyết T: Tù chung thân.
Tổng hợp hình phạt của Bản án số 229 2015 ngày 17 9 2015 Toà án nhân
dân cấp cao tại Đà Nẵng xử phạt cáo 10 năm tù về tội “ ừa đảo chiếm đoạt tài
sản” theo khoản 4 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999. Buộc cáo Nguyễn Th
Tuyết T phải chấp hành hình phạt chung của hai ản án là: Tù chung thân. Thời
hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 22 8 2020.
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ
sung năm 2017).
Xử phạt cáo ê Th 18 (Mười tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 25 8 2020.
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ
sung năm 2017).
Xử phạt cáo Phạm Văn T2 13 (Mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày
ắt tạm giam là ngày 21 11 2022.
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm , n, s khoản 1, khoản 2 Điều
51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi,
bổ sung năm 2017).
Xử phạt cáo Nguyễn Th Thanh T4 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày
ắt đi thi hành án.
2. Về trách nhiện dân sự:
Căn cứ theo khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều
584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 587 và Điều 589 Bộ luật Dân sự
năm 2015;
- Buộc hại Nguyễn Văn P2 trả lại cho hại Nguyễn Ngọc K số tiền
18.011.250.000 (Mười tám tỷ không trăm mười một triệu hai trăm năm mư i
nghìn) đồng; trả lại cho hại Nguyễn Th P số tiền 6.003.750.000 (Sáu tỷ
không trăm lẻ a triệu ảy trăm năm mư i nghìn) đồng.
- Buộc hại Nguyễn Th N3 trả lại cho hại Nguyễn Ngọc K số tiền
5.303.250.000 (Năm tỷ a trăm lẻ a triệu hai trăm năm mư i nghìn) đồng; trả
lại cho hại Nguyễn Th P số tiền 1.767.750.000 (Một tỷ ảy trăm sáu mư i
ảy triệu ảy trăm năm mư i nghìn) đồng.
- Buộc hại Nguyễn Th Minh H4 trả lại cho hại Nguyễn Ngọc K số
tiền 1.350.000.000 (Một tỷ a trăm năm mư i triệu) đồng; trả lại cho hại Nguyễn Th P số tiền 450.000.000 (Bốn trăm năm mư i triệu) đồng.
- Buộc hại Trần Th Hồng T5 trả lại số tiền cho hại Nguyễn Ngọc K
số tiền 3.900.000.000 (Ba tỷ chín trăm triệu) đồng; trả lại cho hại Nguyễn Th P số tiền 1.300.000.000 (Một tỷ a trăm triệu) đồng.
- Buộc hại Võ Tấn C trả lại cho hại Nguyễn Ngọc K số tiền
4.044.750.000 (Bốn tỷ không trăm ốn mư i ốn triệu ảy trăm năm mư i nghìn) đồng; trả lại cho hại Nguyễn Th P số tiền 1.348.250.000 (Một tỷ a trăm ốn mư i tám triệu hai trăm năm mư i nghìn) đồng.
- Buộc cáo ê Th trả cho hại Nguyễn Th P số tiền 510.000.000
(Năm trăm mười triệu) đồng (Trong đ số tiền 10.000.000 đồng cáo ê Th đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam theo iên lai thu số 0000629 ngày 11 10 2022 và số tiền 500.000.000 đồng của ê Th đang được gửi tại tài khoản số 394909046395 - của Phòng C3 mở tại Kho ạc Nhà nư c tỉnh Q).
- Buộc cáo Phạm Văn T2 trả cho hại Nguyễn Th P số tiền 5.500.000
(Năm triệu năm trăm nghìn) đồng, số tiền này cáo đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam theo iên lai thu số 0000701 ngày 24 tháng 02 năm 2023.
- Buộc cáo Nguyễn Th Thanh T4 trả cho hại Nguyễn Th P số tiền
20.000.000 (Hai mư i triệu) đồng, số tiền này cáo đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam theo iên lai thu số 0007177 ngày 04 tháng 8 năm 2023.
- Buộc cáo Nguyễn Th Tuyết T trả cho hại Nguyễn Ngọc K số tiền
21.564.750.000 (Hai mư i mốt tỷ năm trăm sáu mư i ốn triệu ảy trăm năm mư i nghìn) đồng; trả cho hại Nguyễn Th P số tiền 2.330.750.000 (Hai tỷ a trăm a mư i triệu ảy trăm năm mư i nghìn) đồng.
Kể từ ngày ản án c hiệu lực pháp luật, những người c quyền yêu cầu
thi hành án c đ n yêu cầu thi hành án nếu người c nghĩa vụ thi hành án không trả số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải ch u tiền lãi theo quy đ nh tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, Bản án s thẩm còn quyết đ nh về phần xử lý vật chứng, án phí
và quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.
Trong hời hạn luật đ nh, các cáo và hại kháng cáo như sau:
1. B cáo Nguyễn Th Tuyết T, ê Th và cáo Phạm văn T9 kháng
cáo xin giảm nhẹ hình phạt;
2. B cáo Nguyễn Th Thanh T4 kháng cáo kêu oan;
3. Người hại Nguyễn Ngọc K kháng cáo đề ngh Toà án cấp phúc thẩm
giữ nguyên hình phạt đối v i cáo Nguyễn Th Tuyết T và tăng hình phạt đối v i cáo ê Th .
4. Các hại Nguyễn Th P, Nguyễn Th N3, Trần Th Hồng T5, Nguyễn
Th Minh H4 kháng cáo không chấp nhận Bản án s thẩm tuyên uộc hại phải
khắc phục hậu quả cho các hại khác, cần giải quyết phần tài sản còn lại của
cáo để khắc phục hậu quả.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề
ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356
Bộ luật tố tụng hình sự: không chấp nhận kháng cáo của các cáo và kháng cáo
của các hại, giữ nguyên Bản án s thẩm.
Các uật sư ào chữa cho ốn cáo đều khẳng đ nh rằng, Toà án cấp s
thẩm xét xử các cáo về tội “ ừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng. Tuy nhiên
Toà án cấp s thẩm xử phạt quá nghiêm khắc, đề ngh Hội đồng xét xử phúc
thẩm xem xét tính chất hành vi, vai trò của từng cáo, các tình tiết giảm nhẹ,
hại xin giảm hình phạt cho các cáo; uật sư Đào Văn M1 cho rằng cáo ê
Th c nhiều tình tiết giảm nhẹ m i; từ đ các uật sư đề ngh Hội đồng xét
xử phúc thẩm xem xét giảm hình phạt cho các cáo.
uật sư Bùi Bá D1 ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho hại Nguyễn
Th P đề ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ Bản án s thẩm, giao hồ s về cấp
s thẩm điều tra lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa; xem xét ý kiến của Luật sư và
quan điểm của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay các cáo Nguyễn Th Tuyết T, ê
Th , Phạm Văn T2 thừa nhận hành vi và tội danh như Toà án cấp s thẩm xét
xử là đúng và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm hình phạt. B cáo Nguyễn
Th Thanh T4 đã thay đổi nội dung kháng cáo, rút kháng cáo kêu oan, thừa nhận
hành vi và tội danh như Tòa án cấp s thẩm xét xử là đúng, ổ sung nội dung
kháng cáo xin giảm hình phạt. Các hại giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Xét lời khai của các cáo T, L, T2 tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp
v i đ n tố cáo và lời khai của các hại, người c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,
vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ được chứng minh c tại hồ s vụ án,
Hội đồng xét xử c đủ c sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ tháng 6 2019 đến ngày 21 8 2020, Nguyễn Th
Tuyết T v i thủ đoạn gian dối thông qua việc đưa ra thông tin là T đang uôn
án hàng hải sản xuất khẩu v i số lượng l n và kêu gọi người khác đầu tư vốn
để được hưởng lợi nhuận từ đ Nguyễn Th Tuyết T đã lừa đảo chiếm đoạt của
07 hại v i tổng số tiền 405.692.000.000 đồng gồm: ông Nguyễn Ngọc K
168.723.000.000 đồng; à Nguyễn Th P 106.236.000.000 đồng; ông Nguyễn
Văn P2 13.330.000.000 đồng; à Nguyễn Th N3 5.746.000.000 đồng; à
Nguyễn Th Minh H4 25.589.000.000 đồng; à Trần Th Hồng T5
78.428.000.000 đồng; ông Võ Tấn C 7.640.000.000 đồng. Trong đ :
+ Nguyễn Th Tuyết T đã cấu kết v i ê Th để chiếm đoạt số tiền
264.280.000.000 đồng của các hại Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Th P, Nguyễn Th Minh H4, Nguyễn Th N3, Nguyễn Th Hồng T10, Võ Tấn C. Nguyễn Th Tuyết T cùng v i ê Th đã đưa ra thông tin gian dối để các hại tin tưởng ê Th là đầu mối án hải sản cho T và chuyển số tiền 264.280.000.000 đồng cho L, L chuyển lại cho T số tiền 247.574.000.000 đồng thông qua hệ thống ngân hàng để T chiếm đoạt, L chuyển hoàn tiền cho à P 10.000.000.000 đồng. Số tiền còn lại 6.846.000.000 đồng, L cất giữ và thống nhất cấn trừ 650.000.000 đồng tiền T mua hàng hải sản của L, còn lại để sử dụng và tiêu xài.
+ Để các hại tin tưởng chuyển tiền cho T để T chiếm đoạt, Nguyễn Th
Tuyết T cấu kết v i Phạm Văn T2 đ ng giả là đầu mối mua hàng xuất khẩu của T để lừa đảo chiếm đoạt của à P số tiền 27.800.000.000 đồng. Phạm Văn T2 được T cho số tiền 5.500.000 đồng. Số tiền này được T chuyển khoản đến tài khoản ngân hàng S2 số 040096944235 của T2 và tài khoản ngân hàng Đ2 đứng tên chủ sở hữu Nguyễn Văn D2, là ạn của T2.
+ Cũng v i phư ng thức, thủ đoạn trên Nguyễn Th Tuyết T còn cấu kết
v i Nguyễn Th Thanh T4 chiếm đoạt số tiền 23.000.000.000 đồng của à Nguyễn Th P.
Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, T đã lấy tiền của người này để trả
tiền lợi nhuận và một phần tiền gốc cho 07 hại n i trên v i tổng số tiền là 375.065.000.000 đồng, gồm: trả cho ông Nguyễn Ngọc K số tiền 109.902.000.000 đồng; trả cho à Nguyễn Th P số tiền 90.951.000.000 đồng; trả cho ông Nguyễn Văn P2 số tiền 37.345.000.000 đồng; trả cho à Nguyễn Th Minh H4 số tiền 27.389.000.000 đồng; trả cho à Nguyễn Th N3 số tiền 12.817.000.000 đồng; trả cho à Trần Th Hồng T5 số tiền 83.628.000.000 đồng; trả cho ông Võ Tấn C số tiền 13.033.000.000 đồng. Hiện nay T còn chiếm đoạt số tiền là 74.106.000.000 đồng gồm: ông Nguyễn Ngọc K v i số tiền 58.821.000.000 đồng; à Nguyễn Th P v i số tiền 15.285.000.000 đồng.
Hành vi và hậu quả nêu trên, Toà án cấp s thẩm đã xét xử các cáo
Nguyễn Th Tuyết T, ê Th , Phạm Văn T2 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” v i tình tiết đ nh khung tăng nặng “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” theo quy đ nh tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là c căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của các cáo Nguyễn Th Tuyết T,
ê Th , Phạm Văn T2 và cáo Nguyễn Th Thanh T4, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của các cáo gây ra rất nghiêm trọng; các cáo Nguyễn Th Tuyết T, ê Th , Phạm Văn T2, Nguyễn Th Thanh T4 là những người c đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật để nhận thức điều đ nhưng vì động c vụ lợi và thiếu ý thức tôn trọng pháp luật nên cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Các cáo Nguyễn Th Tuyết T, ê Th , Phạm Văn T2, Nguyễn Th
Thanh T4 đã thực hiện hành vi chiếm đoạt của các hại nhiều lần, mỗi lần chiếm đoạt đều trên 2.000.000 đồng. Các cáo c sự cấu kết chặt chẽ v i nhau, hành vi của các cáo diễn ra liên tục, nhiều lần thực hiện hành vi gian dối để
chiếm đoạt tiền của nhiều hại. Do đ , các cáo áp dụng các tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Phạm tội có tổ chức”
quy đ nh tại các điểm a, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Riêng đối v i cáo Nguyễn Th Tuyết T: Tại Bản án số 09 2015 HSST
ngày 25 3 2015, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam và Bản án số 229 2015
ngày 17 9 2015, Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xử phạt 10 năm tù về
tội “ ừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm
1999. Do đ , cáo Nguyễn Th Tuyết T áp dụng tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự là “Tái phạm nguy hiểm” quy đ nh tại điểm h khoản 1 Điều 52
Khi xét xử s thẩm, Toà án cấp s thẩm đã xem xét, áp dụng đầy đủ các
tình tiết giảm nhẹ cho các cáo, như:
+ Trong quá trình điều tra và tại phiên toà các cáo thành khẩn khai áo,
ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
+ Trong quá trình phạm tội, Nguyễn Th Tuyết T đã chi trả tiền lợi nhuận
và một phần tiền gốc cho hại, tại phiên tòa cáo đồng ý giao các tài sản là
nhà và đất đã kê iên cho các hại Nguyễn Th P, Nguyễn Ngọc K để khắc
phục hậu quả; cáo Phạm Văn T2 đã nộp số tiền 5.500.000 đồng, cáo
Nguyễn Th Thanh T4 đã nộp 20.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, tại phiên
toà cáo ê Th đồng ý chuyển số tiền 500.000.000 đồng mà C quan cảnh
sát điều tra công an tỉnh Q thu giữ, số tiền 10.000.000 đồng nộp tại Cục Thi
hành án dân sự tỉnh Quảng Nam và số tiền còn lại trong tài khoản của cáo L
đã phong toả cho hại P nên các cáo được áp dụng điểm khoản 1 Điều
51 Bộ luật Hình sự.
+ B cáo Nguyễn Th Tuyết T sau khi phạm tội đã đến C quan điều tra
đầu thú; cáo ê Th c hoàn cảnh gia đình kh khăn được Ủy an nhân dân
xã V xác nhận, gia đình của cáo Phạm Văn T2 c nhiều người thân c công
v i Cách mạng, hoàn cảnh gia đình kh khăn. Do đ các cáo T, L, T4, T2
được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy đ nh tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Thấy rằng, Toà án cấp s thẩm tuyên phạt các cáo là tư ng xứng v i
tính chất hành vi, hậu quả vụ án, đã xem xem xét nhân thân các cáo, mức án
tuyên phù hợp, đúng pháp luật.
Riêng đối v i cáo ê Th , trong giai đoạn phúc thẩm c xuất trình
thêm các tình tiết: đ là Giấy khen của UBND xã V, thành phố N tặng cho
cáo vào năm 2018 do c thành tích xuất sắc trong công tác; Đ n xin xác nhận và
c xác nhận của UBND xã V, thành phố N, c nội dung: năm 2017, cáo ê
Th tham gia cứu giúp người gặp nạn do lũ ống lũ quét xảy ra trên đ a àn
thôn N, xã V, (làm sập nhà của hộ gia đình ông Nguyễn Thành T11 cùng vợ là
Trần Th Phư ng 3 và hai cháu Nguyễn Anh Thư s 2004, Nguyễn Anh T12
sinh 2006) đưa về nhà người thân ở thôn X, xã V để tránh trú an toàn; c thẻ Hội
viên thể hiện à Nguyễn Th H7 ( cáo khai là à ngoại cáo) là Hội viên Hội
tù chính tr yêu nư c tỉnh Phú Yên; các phiếu thu số 0000711 ngày 17 6 2024, số 0007229 ngày 28 9 2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam thể hiện gia đình cáo nộp tổng số tiền 23.000.000 đồng để nộp án phí s thẩm và khắc phục hậu quả. Xét thấy đây là các tình tiết giảm nhẹ m i ( cáo c thành tích, cáo tham gia cứu người, gia đình c người c công cách mạng), quy đ nh tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cáo ê Th được hưởng nhưng trong giai đoạn s thẩm chưa được xem xét áp dụng. Do c nhiều tình tiết giảm nhẹ m i nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của cáo ê Th L, sửa Bản án s thẩm, giảm cho cáo L một phần hình phạt. Đối v i các cáo Nguyễn Th Tuyết T, Phạm Văn T2, Nguyễn Th Thanh T4 thì không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên Bản án s thẩm.
Xét kháng cáo của hại Nguyễn Ngọc K về đề ngh giữ nguyên mức
án đối v i cáo Nguyễn Th Tuyết T và tăng hình phạt đối v i cáo ê Th . Xét thấy rằng, như phân tích trên, Toà án cấp s thẩm tuyên phạt các cáo là phù hợp v i tính chất mức độ của hành vi và hậu quả của vụ án cũng như đã phân hoá vai trò của các cáo trong vụ án này. B cáo T là người chủ mưu cầm đầu và hưởng lợi nên phải ch u hình phạt cao nhất; cáo L là đồng phạm, thực hành, c vai trò thấp h n cáo T nên không thể xử tăng hình phạt. Do đ , Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ chấp nhận một phần kháng cáo của hại Nguyễn Ngọc K, giữ nguyên hình phạt đối v i cáo T và không chấp nhận nội dung kháng cáo đề ngh tăng hình phạt đối v i cáo L.
Xét kháng cáo của các hại Nguyễn Th P, Nguyễn Th N3, Nguyễn
Th Minh H4, Trần Th Hồng T5 về cho rằng Toà án cấp s thẩm uộc các hại khắc phục hậu quả cho các hại khác là không đúng, cần giải quyết tài sản còn lại của cáo để khắc phục hậu quả. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Quá trình điều tra các hại khai số tiền đưa cho T thông qua
chuyển khoản và tiền mặt để T chiếm đoạt cao h n số tiền họ đã thực nhận từ T nhưng không c chứng cứ chứng minh. Do đ , việc các hại: ông Nguyễn Văn P2 yêu cầu trả lại số tiền 5.000.000.000 đồng; à Trần Th Hồng T5 yêu cầu trả lại số tiền 9.000.000.000 đồng; à Nguyễn Th Minh H4 yêu cầu trả lại số tiền 3.000.000.000 đồng; à Nguyễn Th N3 yêu cầu trả lại số tiền 3.000.000.000 đồng và ông Võ Tấn C yêu cầu trả lại số tiền 7.000.000.000 đồng, là không c c sở chấp nhận.
Căn cứ vào ản sao kê l ch sử giao d ch qua hệ thống ngân hàng và
việc T thừa nhận c c sở xác đ nh số tiền các hại chiếm đoạt là 405.692.000.000 đồng. Theo dữ liệu trích sao l ch sử giao d ch của các tài khoản ngân hàng, trong 07 hại, cụ thể: Nguyễn Ngọc K: 168.723.000.000 đồng; Nguyễn Th P: 106.236.000.000 đồng; Nguyễn Văn P2: 13.330.000.000 đồng; Nguyễn Th N3: 5.746.000.000 đồng; Nguyễn Th Minh H4: 25.589.000.000 đồng; Trần Th Hồng T5: 78.428.000.000 đồng; Võ Tấn C: 7.640.000.000 đồng.
Trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, T đã lấy tiền của người này
để trả lợi nhuận và một phần tiền gốc cho 07 hại n i trên v i tổng số tiền 375.065.000.000 đồng, gồm: Nguyễn Ngọc K: 109.902.000.000 đồng; Nguyễn Th P : 90.951.000.000 đồng; Nguyễn Văn P2: 37.345.000.000 đồng; Nguyễn
Th N3: 12.817.000.000 đồng; Nguyễn Th Minh H4: 27.389.000.000 đồng;
Trần Th Hồng T5: 83.628.000.000 đồng; Võ Tấn C: 13.033.000.000 đồng. Số
tiền này đã được C quan điều tra thu thập qua sao kê tài khoản T chuyển cho
07 hại tại các Ngân hàng.
Như vậy, trong 07 hại nêu trên, c 02 hại: ông Nguyễn Ngọc K còn
T chiếm đoạt số tiền là 58.821.000.000 đồng; à Nguyễn Th P còn T
chiếm đoạt số tiền 15.285.000.000 đồng.
Còn lại 05 hại, cáo đã trả lại nhiều h n số tiền cáo đã chiếm đoạt.
cụ thể: Nguyễn Văn P2 nhận thừa (37.345.000.000 đồng - 13.330.000.000
đồng) = 24.015.000.000 đồng; Nguyễn Th N3 nhận thừa: (12.817.000.000 đồng
- 5.746.000.000 đồng) = 7.071.000.000 đồng; Nguyễn Th Minh H4 nhận thừa:
(27.389.000.000 đồng - 25.589.000.000 đồng) = 1.800.000.000 đồng; Trần Th
Hồng T5 nhận thừa: (83.628.000.000 đồng - 78.428.000.000 đồng) =
5.200.000.000 đồng; Võ Tấn C nhận thừa: (13.033.000.000 đồng -
7.640.000.000 đồng) = 5.393.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng, cáo
thực hiện hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của hại, đây là các giao
d ch pháp luật hình sự nghiêm cấm, cáo phải ch u trách nhiệm hình sự v i
số tiền đã chiếm đoạt của các hại đồng thời cáo phải ch u trách nhiệm dân
sự trả lại số tiền đã chiếm đoạt (số tiền gốc) của các hại. Do đ số tiền cáo
T đã chuyển nhiều h n số tiền cáo chiếm đoạt an đầu mà cáo và các hại
P2, N3, H4, T5, C xác đ nh là lợi nhuận là không phù hợp, Hội đồng xét xử xác
đ nh đây là số tiền cáo chiếm đoạt của các hại trong đ c số tiền của hại
K, P mà cáo T đã trả cho 05 hại P2, N3, H4, T5, C; Cáo trạng xác đ nh số
tiền này là lợi nhuận là không phù hợp. Do vậy cần phải uộc các hại Nguyễn
Văn P2, Nguyễn Th N3, Nguyễn Th Minh H4, Trần Th Hồng T5, Võ Tấn C
trả lại số tiền nhiều h n số tiền gốc cáo T đã đưa cho các hại Nguyễn Ngọc
K, Nguyễn Th P. Căn cứ vào số tiền còn lại của cáo T chiếm đoạt của hại
K nhiều h n hại P nên Hội đồng xét xử xác đ nh số tiền này chia thành 04
phần, hại K được 03 phần, hại P được 01 phần, uộc các hại P2, N3, H4,
T5, C phải trả cho hại K, P cụ thể:
- Buộc hại Nguyễn Văn P2 trả lại số tiền nhiều h n số tiền cáo chiếm
đoạt an đầu mà cáo và hại xác đ nh là lợi nhuận 24.015.000.000 đồng cho
các hại Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Th P, mỗi phần là 24.015.000.000 đồng : 4
= 6.003.750.000 đồng, cụ thể: trả cho hại K số tiền 6.003.750.000 đồng x 3 =
18.011.250.000 đồng, trả cho hại P số tiền 6.003.750.000 đồng.
- Buộc hại Nguyễn Th N3 trả lại số tiền nhiều h n số tiền cáo chiếm
đoạt an đầu mà cáo và hại xác đ nh là lợi nhuận 7.071.000.000 đồng cho
các hại Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Th P, mỗi phần là 7.071.000.000 đồng : 4 =
1.767.750.000 đồng; cụ thể: trả cho hại K số tiền 1.767.750.000 đồng x 3 =
5.303.250.000 đồng; trả cho hại P số tiền 1.767.750.000 đồng.
- Buộc hại Nguyễn Th Minh H4 trả lại số tiền nhiều h n số tiền cáo
chiếm đoạt an đầu mà cáo và hại xác đ nh là lợi nhuận 1.800.000.000
đồng cho các hại Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Th P, mỗi phần là 1.800.000.000 đồng: 4 = 450.000.000 đồng; cụ thể: trả cho hại K số tiền 450.000.000 đồng x 3 = 1.350.000.000 đồng; trả cho hại P số tiền 450.000.000 đồng.
- Buộc hại Trần Th Hồng T5 trả lại số tiền nhiều h n số tiền cáo
chiếm đoạt an đầu mà cáo và hại xác đ nh là lợi nhuận 5.200.000.000 đồng cho các hại Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Th P, mỗi phần là 5.200.000.000 đồng: 4 = 1.300.000.000 đồng; cụ thể: trả cho hại K số tiền 1.300.000.000 đồng x 3 = 3.900.000.000 đồng; trả cho hại P số tiền 1.300.000.000 đồng.
- Buộc hại Võ Tấn C trả lại số tiền nhiều h n số tiền cáo chiếm đoạt
an đầu mà cáo và hại xác đ nh là lợi nhuận 5.393.000.000 đồng cho các hại Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Th P, mỗi phần là 5.393.000.000 đồng : 4 = 1.348.250.000 đồng; cụ thể: trả cho hại K số tiền 1.348.250.000 đồng x 3 = 4.044.750.000 đồng; trả cho hại P số tiền 1.348.250.000 đồng.
Số tiền còn lại các cáo đã chiếm đoạt của hại K, P sau khi uộc
các hại P2, N3, H4, T5, C phải trả cho hại K, P số tiền nhiều h n số tiền cáo chiếm đoạt an đầu mà cáo và các hại xác đ nh là lợi nhuận, số tiền của hại K (58.821.000.000 đồng - 32.609.250.000 đồng) = 26.211.750.000 đồng, số tiền của hại P (15.285.000.000 đồng - 10.869.750.000 đồng) = 4.415.250.000 đồng. Trong quá trình điều tra đã xác đ nh cáo T chuyển cho cáo L cất giữ 6.846.000.000 đồng, L cất giữ và thống nhất cấn trừ 650.000.000 đồng tiền T mua hàng hải sản của L, còn lại 6.196.000.000 đồng cáo L để sử dụng và tiêu xài. Do vậy, cần uộc cáo L trả lại 6.196.000.000 đồng cho hại K và hại P, mỗi phần là 6.196.000.000 đồng : 4 = 1.549.000.000 đồng; cụ thể cáo L trả cho hại K 1.549.000.000 đồng x 3 = 4.647.000.000 đồng; cáo L trả cho hại P 1.549.000.000 đồng. Ngoài ra, cáo L còn trả cho hại P số tiền 10.000.000 đồng theo iên lai thu số 0000629 ngày 11 10 2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam và 500.000.000 đồng của ê Th đang được gửi tại tài khoản số 394909046395 của Phòng CSHS mở tại Kho ạc Nhà nư c tỉnh Q; cáo T2 trả cho hại P số tiền 5.500.000 đồng, cáo T4 trả cho hại P số tiền 20.000.000 đồng.
Số tiền còn lại của hại K sau khi trừ số tiền uộc cáo L ồi thường
26.211.750.000 đồng - 4.647.000.000 đồng = 21.564.750.000 đồng;
Số tiền còn lại của hại P sau khi trừ số tiền uộc cáo L, cáo T4 và
cáo T2 ồi thường 4.415.250.000 đồng - 1.549.000.000 đồng - 510.000.000 đồng - 5.500.000 đồng - 20.000.000 đồng = 2.330.750.000 đồng;
Tại phiên tòa, cáo T đồng ý nhận trách nhiệm ồi thường thay cho các
cáo T2, T4 đối v i số tiền đã chiếm đoạt của các hại P và K, Hội đồng xét xử xét thấy, sự tự nguyện của cáo T không trái quy đ nh pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Do đ , uộc cáo T trả cho hại K số tiền 21.564.750.000 đồng; uộc cáo T trả cho hại P 2.330.750.000 đồng.
Còn đối v i các tài sản khác của cáo thì Bản án s thẩm đã tuyên trong
phần xử lý vật chứng, tiếp tục tạm giữ một số tài sản để đảm ảo thi hành án, tiếp tục duy trì các ệnh kê iên tài sản của cáo T để đảm ảo thi hành án.
Từ những phân tích, nhận đ nh trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy
rằng, Toà án cấp s thẩm đã xét xử vụ án c căn cứ, đúng pháp luật; kháng cáo
của cáo và của các hại không c c sở nên không được chấp nhận, do đ
Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên hình phạt đối v i các cáo Nguyễn Th
Tuyết T, Phạm Văn T2, Nguyễn Th Thanh T4 và không chấp nhận kháng cáo
của các hại, giữ nguyên Bản án s thẩm.
Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ chấp nhận kháng cáo của cáo ê Th ,
sửa Bản án s thẩm, giảm cho cáo ê Th một phần hình phạt; chấp nhận
một phần kháng cáo của cáo Nguyễn Ngọc K, giữ nguyên hình phạt đối v i
cáo T.
Về án phí phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên các cáo
T, T2, T4 và hại phải ch u án phí phúc thẩm hình sự và phúc thẩm dân sự theo
quy đ nh tại Ngh quyết số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 của Ủy an
Thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Kháng cáo được chấp nhận nên cáo ê Th không phải ch u án phí
phúc thẩm hình sự.
Các quyết đ nh khác của Bản án s thẩm không kháng cáo, kháng ngh
đã c hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự:
không chấp nhận kháng cáo của các cáo Nguyễn Th Tuyết T, Phạm Văn T2,
Nguyễn Th Thanh T4 và kháng cáo của các hại Nguyễn Th N3, Nguyễn Th
Minh H4, Nguyễn Th P, Trần Th Hồng T5; chấp nhận một phần kháng cáo của
hại Nguyễn Ngọc K, giữ nguyên Bản án s thẩm.
Căn cứ vào điểm khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố
tụng hình sự: chấp nhận kháng cáo của cáo ê Th , sửa Bản án s thẩm.
1. Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm a, h, g khoản 1 Điều 52; Điều 56 và Điều 39 của Bộ luật Hình sự năm 2015
(sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt cáo Nguyễn Th Tuyết T: Tù chung thân về tội “ ừa đảo
chiếm đoạt tài sản”.
Tổng hợp hình phạt của Bản án số 229 2015 ngày 17/9/2015 Toà án nhân
dân cấp cao tại Đà Nẵng xử phạt cáo 10 năm tù về tội “ ừa đảo chiếm đoạt tài
sản” theo khoản 4 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999. Buộc cáo Nguyễn Th
Tuyết T phải chấp hành hình phạt chung của hai ản án là: Tù chung thân. Thời
hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 22 8 2020.
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt cáo ê Th
16 (Mười sáu) năm tù, về tội “ ừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 25/8/2020.
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt cáo Phạm Văn T2 13 (Mười ba) năm tù, về tội “ ừa đảo
chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày
ắt tạm giam là ngày 21 11 2022.
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm , n, s khoản 1, khoản 2 Điều
51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt cáo Nguyễn Th Thanh T4 12 (Mười hai) năm tù, về tội “ ừa
đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày
ắt đi thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ theo khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều
584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 587 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Buộc hại Nguyễn Văn P2 trả lại cho hại Nguyễn Ngọc K số tiền
18.011.250.000 (Mười tám tỷ không trăm mười một triệu hai trăm năm mư i nghìn) đồng; trả lại cho hại Nguyễn Th P số tiền 6.003.750.000 (Sáu tỷ không trăm lẻ a triệu ảy trăm năm mư i nghìn) đồng.
- Buộc hại Nguyễn Th N3 trả lại cho hại Nguyễn Ngọc K số tiền
5.303.250.000 (Năm tỷ a trăm lẻ a triệu hai trăm năm mư i nghìn) đồng; trả lại cho hại Nguyễn Th P số tiền 1.767.750.000 (Một tỷ ảy trăm sáu mư i ảy triệu ảy trăm năm mư i nghìn) đồng.
- Buộc hại Nguyễn Th Minh H4 trả lại cho hại Nguyễn Ngọc K số
tiền 1.350.000.000 (Một tỷ a trăm năm mư i triệu) đồng; trả lại cho hại Nguyễn Th P số tiền 450.000.000 (Bốn trăm năm mư i triệu) đồng.
- Buộc hại Trần Th Hồng T5 trả lại số tiền cho hại Nguyễn Ngọc K
số tiền 3.900.000.000 (Ba tỷ chín trăm triệu) đồng; trả lại cho hại Nguyễn Th P số tiền 1.300.000.000 (Một tỷ a trăm triệu) đồng.
- Buộc hại Võ Tấn C trả lại cho hại Nguyễn Ngọc K số tiền
4.044.750.000 (Bốn tỷ không trăm ốn mư i ốn triệu ảy trăm năm mư i nghìn) đồng; trả lại cho hại Nguyễn Th P số tiền 1.348.250.000 (Một tỷ a trăm ốn mư i tám triệu hai trăm năm mư i nghìn) đồng.
- Buộc cáo ê Th trả cho hại Nguyễn Th P số tiền 510.000.000
(Năm trăm mười triệu) đồng (Trong đ số tiền 10.000.000 đồng cáo ê Th
đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam theo iên lai thu số 0000629
ngày 11 10 2022 và số tiền 500.000.000 đồng của ê Th đang được gửi tại tài
khoản số 394909046395 của Phòng C3 mở tại Kho ạc Nhà nư c tỉnh Q).
- Buộc cáo Phạm Văn T2 trả cho hại Nguyễn Th P số tiền 5.500.000
(Năm triệu năm trăm nghìn) đồng, số tiền này cáo đã nộp tại Cục Thi hành án
dân sự tỉnh Quảng Nam theo iên lai thu số 0000701 ngày 24 tháng 02 năm
2023.
- Buộc cáo Nguyễn Th Thanh T4 trả cho hại Nguyễn Th P số tiền
20.000.000 (Hai mư i triệu) đồng, số tiền này cáo đã nộp tại Cục Thi hành án
dân sự tỉnh Quảng Nam theo iên lai thu số 0007177 ngày 04 tháng 8 năm 2023.
- Buộc cáo Nguyễn Th Tuyết T trả cho hại Nguyễn Ngọc K số tiền
21.564.750.000 (Hai mư i mốt tỷ năm trăm sáu mư i ốn triệu ảy trăm năm
mư i nghìn) đồng; trả cho hại Nguyễn Th P số tiền 2.330.750.000 (Hai tỷ a
trăm a mư i triệu ảy trăm năm mư i nghìn) đồng.
Kể từ ngày ản án c hiệu lực pháp luật, những người c quyền yêu cầu
thi hành án c đ n yêu cầu thi hành án nếu người c nghĩa vụ thi hành án không
trả số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải ch u tiền lãi theo quy đ nh tại khoản
2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí phúc thẩm:
3.1. Án phí hình sự phúc thẩm: Các cáo Nguyễn Th Tuyết T, Nguyễn
Th Thanh T4, Phạm Văn T2 mỗi cáo phải ch u 200.000 (Hai trăm nghìn)
đồng.
3.2. Án phí dân sự phúc thẩm:
B hại Nguyễn Th N3 phải ch u 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào
số tiền 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000532 ngày
31 8 2023 của Cục thi hành án tỉnh Quảng Nam.
B hại Nguyễn Th Minh H4 phải ch u 300.000 đồng nhưng được khấu trừ
vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000530
ngày 31 8 2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam
B hại Trần Th Hồng T5 phải ch u 300.000 đồng nhưng được khấu trừ
vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000531
ngày 31 8 2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam.
B hại Nguyễn Th P phải ch u 300.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền
300.000 đồng đã nộp tạm ứng theo Biên lai thu số 0000539 ngày 08 9 2023 của
Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam
Trường hợp ản án, quyết đ nh được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2
uật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự c quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo quy đ nh tại các Điều 6, 7, 9 uật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 uật Thi hành án dân sự.
Các quyết đ nh khác của Bản án s thẩm không kháng cáo, kháng ngh
đã c hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng ngh .
Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
N i nhận:
| - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Quảng Nam; - C quan CSĐT-Công an tỉnh Quảng Nam; - Phòng HSNV- Công an tỉnh Quảng Nam; - C quan CSTHAHS-CA tỉnh Quảng Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam; - Cục THADS tỉnh Quảng Nam; - B cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - ưu HSVA, PHCTP, T. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Cường |