vanban.org

Bản án 264/2021/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 17/06/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/06/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Đinh Văn T, giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm số 13/2021/HS-ST ngày 17/03/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao; VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn T - phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (điều 290 Luật sửa đổ…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Đinh Văn T, giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm số 13/2021/HS-ST ngày 17/03/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
  • Căn cứ chính? Điều 290 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 264/2021/HSPT
Ngày: 17 - 6 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Tuấn

Các thẩm phán:

Ông Vũ Thanh Liêm

Ông Mai Xuân Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Mỹ Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Tuấn, Kiểm sát viên.

Vào ngày 17 tháng 6 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 282/2021/TLPT-HS ngày 23 tháng 4 năm 2021 đối với b cáo Đinh Văn T về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Do kháng cáo của b cáo đối với Bản án hình sự s thẩm số 13/2021/HSST ngày 17-03-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai. Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 1334/2021/QĐXXPT-HS ngày 26 tháng 5 năm 2021.

- Bị cáo có kháng cáo:

Đinh Văn T. Sinh ngày 15/8/1992, tại tỉnh H Tĩnh. N i ĐKHKTT: tỉnh H Tĩnh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Đinh Đức L và bà Nguyễn Th L; b cáo chưa có vợ, con;

Tiền án: 01 tiền án về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ngày 26/3/2015, b cáo b Tòa án Nhân dân quận B, thành phố H Nội tuyên phạt 18 tháng tù chấp hành án tại trại giam T đến ngày 19/5/2016, b can chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự được tuyên trong bản án; tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 18/3/2013, b cáo b Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh H Tĩnh xử phạt 06 tháng về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. B can chấp hành án tại trại tạm giam Công an tỉnh H Tĩnh đến ngày 04/6/2013, b can chấp hành xong hình phạt tù về đ a phư ng sinh sống. B cáo đầu thú ngày 11/6/2020 và b tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/06/2020 cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai, có mặt. * Người bị hại: 1. Ch Đinh Th P, sinh năm 1976, vắng mặt Trú tại: Gia Lai 2. Ch Nguyễn Th Mỹ H, sinh năm 1992, vắng mặt Trú tại: tỉnh Gia Lai 3. Ch Nguyễn Th T, sinh năm 1979, vắng mặt Trú tại: tỉnh Gia Lai 4. Ch Nguyễn Th Hồng V, sinh năm 1983, vắng mặt Trú tại: tỉnh Gia Lai 5. Ch R, sinh năm 1984, vắng mặt Trú tại: tỉnh Gia Lai * Người làm chứng: 1. Ch Nguyễn Th T, sinh năm 1972, vắng mặt Trú tại: tỉnh Gia Lai 2. Ch Nguyễn Th H, sinh năm 1969, vắng mặt Trú tại: tỉnh Gia Lai. 3. Ch Nguyễn Th H1, sinh năm 1983, vắng mặt Trú tại: tỉnh Gia Lai 4. Ch Vũ Th Hải A, sinh năm 1978, vắng mặt Trú tại: tỉnh Gia Lai 5. Sở Giáo dục tỉnh Gia Lai, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

a. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong khoảng thời gian từ ngày 05/7/2019 đến ngày 12/7/2019, Đinh Văn T sử dụng điện thoại smart phone truy cập vào các trang web của nhiều trường tiểu học trên đ a bàn tỉnh Gia Lai thu thập thông tin cá nhân của các giáo viên đang công tác tại trường bao gồm: Tên; tuổi; số điện thoại; v trí công tác; thời gian công tác… Sau đó, T sử dụng điện thoại Nokia 1280 gắn sim rác (sim không chính chủ) thực hiện cuộc gọi hội ngh (gọi nhiều người cùng đàm thoại cùng lúc) gọi điện cho Ban giám hiệu hoặc kế toán của trường, giả danh Thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai đang thanh tra hồ s tuyển dụng của các giáo viên; công tác tài chính và cấp phát lư ng qua thẻ ATM của trường. Sau đó, Đinh Văn T kết nối điện thoại với các giáo viên, tự xưng là Thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai đang làm việc với ban giám hiệu của nhà trường để thanh tra công tác tài chính và cấp phát lư ng qua thẻ ATM. Đồng thời, T cho các giáo viên nghe giọng nói của Ban giám hiệu và yêu cầu các giáo viên cung cấp tài khoản, mật khẩu, mã OTP truy cập vào d ch vụ chuyển tiền trực tuyến mà các giáo viên đã đăng ký với ngân hàng để phục vụ công tác thanh tra. Tin lời của T là thật, các giáo viên cung cấp cho T. Sau đó, T sử dụng Smart phone truy cập vào tài khoản ngân hàng và chuyển số tiền trong tài khoản của các giáo viên đến tài khoản khác để chiếm đoạt. Bằng thủ đoạn nêu trên, trong khoảng thời gian từ 05/7/2019 đến ngày 12/7/2019, T đã chiếm đoạt của 05 giáo viên trên đ a bàn tỉnh Gia Lai với tổng số tiền: 95.900.000 đồng cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 16h ngày 05/7/2019, Đinh Văn T truy cập vào trang Web của trường Tiểu học C, thành phố P, tỉnh Gia Lai để thu thập thông tin của các giáo viên đang công tác tại trường. Sau đó, T sử dụng điện thoại Nokia 1280 gắn Sim điện thoại số 0865 158 337 và sử dụng d ch vụ cuộc gọi hội ngh để gọi cho nhiều giáo viên. Trong đó, Đinh Văn T gọi điện cho ch Nguyễn Th T là hiệu phó của trường. Đinh Văn T tự giới thiệu là Thanh tra Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh Gia Lai, đang cùng Phòng Giáo dục thành phố P kiểm tra công tác trực hè của trường, nhưng Trường C không có người trực. Đinh Văn T yêu cầu ch T đối chất với các giáo viên qua điện thoại và xác nhận cho các giáo viên là đang có thanh tra về thanh tra trường. T kết nối điện thoại với ch Đinh Th P là giáo viên trường tiểu học C và yêu cầu ch T xác nhận sự việc nêu trên. Tin lời của T là thật, ch T xác nhận với ch Đinh Th P đang có thanh tra về thanh tra công tác của trường và yêu cầu ch P cung cấp đầy đủ thông tin phục vụ công tác thanh tra. Sau đó, T yêu cầu ch Phư ng cung cấp Tài khoản, mật khẩu truy cập và mã OTP cho T để phục vụ công tác thanh tra. Ch P tưởng thật nên đã cung cấp toàn bộ thông tin nêu trên cho T. Sau đó, T sử dụng Smart phone truy cập vào tài khoản ngân hàng số: 62110000062343 của ch P mở tại ngân hàng X Gia Lai và chuyển số tiền: 4.500.000 đồng đến tài khoản 3281000374758 của Bùi Hư ng T mở tại ngân hàng V chi nhánh Đông A, H Nội để chiếm đoạt.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 13h ngày 08/7/2019, Đinh Văn T truy cập vào trang Web của Trường Tiểu học L, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Với thủ đoạn như trên, T gọi cho ch Nguyễn Th Mỹ H là giáo viên của Trường Tiểu học L và tự xưng là Thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai, hiện đang ngồi làm việc với ch Nguyễn Th H là hiệu phó của trường, để thanh tra một số nội dung liên quan đến trường. Đinh Văn T yêu cầu ch H cung cấp tài khoản, mật khẩu truy cập mã OTP cho T để phục vụ công tác thanh tra. Sau đó, Đinh Văn T kết nối điện thoại với ch Nguyễn Th H. T tự giới thiệu với ch H là thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai đang làm việc với Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố P. Đinh Văn T yêu cầu ch H cung cấp thông tin về quá trình công tác của ch Nguyễn Th Mỹ H. Tin lời của T là thật, ch H nhận xét quá trình công tác của ch Nguyễn Th Mỹ H qua điện thoại. Lúc này, Đinh Văn T cho ch H nghe giọng nói của ch H và ngắt kết nối với ch H. Sau khi nghe được giọng nói của ch H, ch Nguyễn Th Mỹ H tin T là thanh tra thật, nên đã cung cấp tài khoản, mật khẩu và mã OTP cho T. Đinh Văn T, sử dụng smart phone truy cập vào tài khoản ngân hàng số: 62110000582230 của ch H mở tại ngân hàng X Gia Lai, chuyển số tiền 15.000.000 đồng đến tài khoản 3281000008577 của Nguyễn Th Phư ng H mở tại ngân hàng X chi nhánh Lạch Tray, Hải Phòng và 25.000.000 đồng đến tài khoản 3281000374758 của Bùi Hư ng T mở tại ngân hàng V chi nhánh Đông A, H Nội để chiếm đoạt. Sau khi chiếm đoạt tiền của ch H, Đinh Văn T kết nối điện thoại với ch Vũ Th Hải A cũng là giáo viên trường L. Đinh Văn T tự giới thiệu với ch Hải A là thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai, đang ngồi làm việc với ch Nguyễn Th H; ch Nguyễn Th Mỹ H và đang thanh tra một số nội dung liên quan đến trường L. Đinh Văn T yên cầu ch Nguyễn Th Mỹ H xác nhận với ch Vũ Th Hải A nội dung: Đinh Văn T là thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai đang thanh tra trường L. Tuy nhiên, qua nói chuyện ch Vũ Th Hải A nghi ngờ nên đã ghi âm lại cuộc nói chuyện giữa ch Vũ Th Hải A, Đinh Văn T và ch Nguyễn Th Mỹ H và sao chép ra đĩa CD giao nộp cho c quan điều tra. Vụ thứ ba: Khoảng 15h ngày 11/7/2019, Đinh Văn T truy cập vào trang web của Trường Tiểu học Đ tỉnh Gia Lai. T gọi điện cho ch Nguyễn Th T là giáo viên của trường. Đinh Văn T tự giới thiệu tên là Tuấn là Thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai đang ngồi làm việc với Ban giám hiệu của trường để thanh tra công tác cấp phát lư ng qua thẻ cho các giáo viên. T yêu cầu ch T cung cấp tài khoản, mật khẩu truy cập và mã OTP để phục vụ công tác thanh tra. Tin lời của T là thật, ch T cung cấp toàn bộ tài khoản, mật khẩu truy cập và mà OTP cho T. T sử dụng điện thoại smart phone truy cập vào tài khoản số: 62610000500608 của ch T mở tại ngân hàng X chi nhánh C và chuyển số tiền 4.600.000 đồng đến tài khoản 3281000008577 của Nguyễn Th Phư ng H mở tại ngân hàng X chi nhánh Hải Phòng để chiếm đoạt. Vụ thứ tư: Bằng thủ đoạn nêu trên, ngày 12/7/2019 Đinh văn T sử dụng điện thoại số: 0327155856 thực hiện cuộc gọi hội ngh gọi cho ch Nguyễn Th H1 là kế toán của Trường Dân tộc Nội trú huyện Đ. T tự giới thiệu mình tên Lê Tuấn A và là thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai, đang thanh tra tài chính đối với trường. Đinh văn T yêu cầu ch Nguyễn Th H1 cung cấp danh sách các giáo viên có sử dụng tài khoản ngân hàng và sử dụng d ch vụ internet Banking (chuyển tiền trực tuyến) và giữ điện thoại để làm việc. Tin lời của T là thật, ch H1 cung cấp cho T biết, ch Nguyễn Th Hồng V và ch R là giáo viên của trường có tài khoản ngân hàng và sử dụng d ch vụ chuyển tiền trực tuyến và cung cấp số điện thoại của hai giáo viên trên. Đinh Văn T kết nối điện thoại với ch Nguyễn Th Hồng V, T tự giới thiệu với ch V là Thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai đang về thanh tra công tác tài chính của trường. T yêu cầu ch Nguyễn Th Hồng V cung cấp mật khẩu đăng nhập vào tài khoản internet banking và mã OTP phục vụ công tác thanh tra. Lúc này, T yêu cầu ch Nguyễn Th H1 thông báo với ch Nguyễn Th Hồng V nội dung: T là thanh tra của Sở Giáo dục và yêu cầu ch V hợp tác. Sau khi nghe ch H1 xác nhận về T, ch Nguyễn Th Hồng V tin lời của T là thật, nên đã cung cấp tài khoản, mật khẩu truy cập và mã OTP cho T. T sử dụng điện thoại Smart phone truy cập vào tài khoản số: 5012215035295 của ch Nguyễn Th Hồng V mở tại ngân hàng A Đ, chuyển số tiền: 25.000.000 đồng đến tài khoản 0351001006359 của Bùi Đức Minh mở tại ngân hàng V chi nhánh Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh để chiếm đoạt. Tuy nhiên, trong quá trình thao tác T chuyển nhầm sang tài khoản số: 0351001006369 của Đỗ Văn H mở tại ngân hàng V chi nhánh Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi chuyển nhầm, Đinh Văn T tiếp tục truy cập vào tài khoản của ch V chuyển số tiền 16.000.000 đồng đến tài khoản số: 0351001006359 của Bùi Đức Minh để chiếm đoạt.

Vụ thứ năm: Bằng thủ đoạn như đã thực hiện với ch Nguyễn Th Hồng V, Đinh Văn T đã lấy được tài khoản, mật khẩu truy cập và mà OTP từ ch R là giáo viên của trường Dân tộc Nội trú huyện Đak Đoa. Sau đó, truy cập và chuyển số tiền 5.800.000 đồng từ tài khoản 5012215035266 của ch R đến tài khoản 32810000083577 của Nguyễn Th Phư ng H mở tại ngân hàng X chi nhánh Lạch Chay, tỉnh Hải Phòng đề chiếm đoạt.

Sau khi thực hiện các lần chiếm đoạt tài sản nói trên, ngày 11/6/2020, Đinh Văn T đến C quan Công an tỉnh Bà R a - Vũng Tàu đầu thú và khai nhận các lần đã thực hiện hành vi sử dụng mạng máy tính, phư ng tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nói trên. C quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai phối hợp với Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Bà R a - Vũng Tàu lập biên bản người phạm tội ra đầu thú đối với Đinh Văn T và chuyển về C quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai để điều tra. Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 1280, sau khi sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, Đinh Văn T cho Nguyễn Trung Kiên là người quen của T sử dụng, hiện anh Kiên đã nộp lại chiếc điện thoại này cho C quan điều tra. Riêng điện thoại smart phone, T khai sau khi thực hiện hành vi phạm tội, T đã vứt bỏ nên không thu giữ được.

Tại Bản án h nh sự sơ th m s 13/2021/HSST ngày 17/3/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đ quyết định: 1. Về tội danh: Tuyên bố b cáo Đinh Văn T phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phư ng tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. 2. Về điều luật áp dụng và h nh phạt:

- Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 290 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự Xử phạt b cáo Đinh Văn T 4 (b n) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/6/2020. Ngoài ra, bản án s thẩm còn quyết đ nh trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật. Ngày 18/3/2021 b cáo Đinh Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm: Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án như sau: Bản án Tòa án s thẩm đúng pháp luật; b cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết gì mới, đề ngh giữ nguyên bản án s thẩm. B cáo thừa nhận hành vi phạm tội như án s thẩm và đề ngh xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau: [1] B cáo Đinh Văn T đã có hành vi lên mạng truy cập vào trang web của nhiều trường tiểu học tại Gia Lai để thu thập thông tin cá nhân của các giáo viên, mua sim rác gắn vào điện thoại Nokia 1280 thực hiện cuộc gọi hội ngh đến Ban giám hiệu hoặc kế toán của các trường, tự nhận là Thanh tra của Sở giáo dục tỉnh Gia Lai đang thực hiện kế hoạch thanh tra hồ s tuyển dụng và việc cấp phát lư ng qua thẻ ATM đồng thời gọi cho các giáo viên và yêu cầu phải cung cấp cho b cáo thông tin tài khoản ngân hàng như tên đăng nhập Internet Banking, mật khẩu và mã OTP; sau khi có được những thông tin cần thiết, b cáo dùng điện thoại Smartphone truy cập tài khoản ngân hàng của nhiều giáo viên rồi chuyển toàn bộ tiền sang tài khoản ảo nhằm mục đích đánh bạc. Từ ngày 05/7/2019 đến ngày 12/7/2019 với thủ đoạn nêu trên b cáo đã chiếm đoạt tiền của 05 giáo viên trên đ a bàn tỉnh Gia Lai gồm ch Đinh Th P, ch Nguyễn Th Mỹ H, ch Nguyễn Th T, ch Nguyễn Th Hồng V và ch R với tổng số tiền là 95.900.000 đồng. Tòa án s thẩm đã xét xử b cáo về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phư ng tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo quy đ nh tại điểm b, đ khoản 2 Điều 290 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo, thấy: Hành vi phạm tội của các b cáo là nghiêm trọng, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của các giáo viên được pháp luật bảo vệ, xâm phạm quy đ nh của nhà nước về bảo đảm an toàn mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết b số của người khác; gây ảnh hưởng xấu đến trật tự tr an và gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Khi quyết đ nh hình phạt đối với b cáo, Tòa án cấp s thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, hậu quả của tội phạm, nhân thân của b cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt b cáo mức án 4 năm 6 tháng tù là không nặng và đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm b cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết nào mới giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của b cáo giữ nguyên bản án s thẩm.

Các phần khác của Bản án hình sự s thẩm về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí hình sự và dân sự s thẩm không có kháng cáo, không b kháng ngh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

Án phí hình sự phúc thẩm b cáo Đinh Văn T phải ch u 200.000,(Hai trăm ngàn) đồng, theo quy đ nh tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự, Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Đinh Văn T, giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm số 13/2021/HS-ST ngày 17/03/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 290 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự Xử phạt b cáo Đinh Văn T 4 (b n) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phư ng tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/6/2020. 2. Các Quyết đ nh khác của Bản án hình sự s thẩm số 13/2021/HS-ST ngày 17/03/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí hình sự và dân sự s thẩm và các phần khác không có kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh . 3. Án phí hình sự phúc thẩm b cáo Đinh Văn T phải ch u 200.000, đồng (Hai trăm ngàn đồng). Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ