- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trương Văn GG ... & ĐP - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Văn GG ...; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Th ...; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 197/2019/HS- ST ngày 31/12/2019 của Toà án nhân dân huyện ..., thành phố Hà Nội đối với các bị cáo Trương Văn GG ... và Nguyễn…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI -------------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 264 /2020/HS- PT Ngày: 05- 5- 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Năng Thành
Các Thẩm phán: Ông Mai Văn Quang và bà Đặng Thị Thanh Huyền
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà- Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 130/2020/TLPT- HS ngày 03/3/2020, do có kháng cáo của các bị cáo Trương Văn GG ... và Nguyễn Văn Th ... đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 197/2019/HS- ST ngày 31/12/2019 của Toà án nhân dân huyện ..., thành phố Hà Nội.
* Các bị cáo kháng cáo:
1. Trương Văn GG ...; sinh năm ..., tại Nam Định; nơi cư trú: ..., Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 05/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Trương Ngô QQ ... (đã chết) và bà Hồ Thị CC ...; có vợ là Trần Thị HH ... (sinh năm ...) và có 02 con (sinh năm ...); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 22/02/2019 đến ngày 25/02/2019; tại ngoại và bị Cấm đi khỏi nơi cư trú; ĐT: ...; có mặt.
2. Nguyễn Văn Th ...; sinh năm ..., tại Nam Định; nơi cư trú: ..., Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn NN ... và bà Nguyễn Thị T ...; có vợ là Tống Kiều A ... (sinh năm ...) và chưa có con; chưa có tiền án, tiền sự; bị tạm giữ từ ngày 22/02/2019 đến ngày 25/02/2019; tại ngoại và bị Cấm đi khỏi nơi cư trú; ĐT: ...; có mặt.
* Ngoài ra, còn có bị cáo Nguyễn Văn TT..., người bị hại (anh Vũ Văn VV ...) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (chị Trần Thị H... và chị Trương Thị H...): Không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 5 năm 2018, anh Vũ Văn VV ... có vay 10.000.000 đồng của Trương Văn GG ... để chi tiêu cá nhân và chưa trả nợ; sau đó, anh VV ... lại vay của Nguyễn Văn TT... là 2.000.000 đồng và cũng chưa trả nợ; GG ... thường xuyên gọi điện hoặc đến nhà tìm nhưng không gặp được anh VV ... để đòi tiền. Ngày 19/02/2019, anh VV ... nhờ TT... xin cho đi làm thợ xây và hỏi vay tiếp là 5.000.000 đồng, TT... nhận lời, hẹn ra Hà Nội và TT... sẽ đón tại bến xe Gia Lâm. Do biết GG ... đang tìm anh VV ... để đòi tiền nên TT... nói lại sự việc cho GG ... biết; GG ... và TT... thỏa thuận là khi nào đi đón anh VV ... thì TT... thông tin cho GG ... biết.
Ngày 22/02/2019, anh VV ... đi xe khách đến khu vực cầu ... (phường ..., quận Long Biên) và gọi điện cho TT... ra đón. TT... gọi điện cho GG ... thì GG ... nói “anh cứ chở nó ra công trình đi, tí xem nó có tiền bắt nó trả; không thì cho nó một trận”. Do đang đi cùng Nguyễn Văn Th ... (cháu họ) nên GG ... kể cho Th ... biết việc anh VV ... vay tiền nhưng chây ì không trả nợ; GG ... chở Th ... về nơi GG ... đang nhận cai thầu xây dựng tại thôn ... (Hà Nội) để Th ... cất quần áo rồi GG ... và Th ... đi ra điểm hẹn; GG ... chuẩn bị sẵn một đoạn gậy gỗ, dây xích sắt và khóa móc.
Khoảng 10 giờ cùng ngày, khi TT... chở anh VV ... đi qua thì GG ... điều khiển xe máy chở Th ... đuổi theo phía sau; đi tiếp khoảng 500m, TT... giả vờ dừng xe để đi vệ sinh thì GG ... cũng dừng xe, tiến đến, cầm gậy gỗ bằng tay phải vụt 01 phát trúng đầu làm anh VV ... ngã xuống đường; GG ... vụt tiếp 02 phát nữa vào chân và nói “mày nợ tiền tao từ tháng hai năm ngoái đến giờ sao mày không trả, mà cứ trốn tao”; anh VV ... nói “đợt này em lên, em làm cho các anh, em xin anh”. TT... giữ người để GG ... dùng dây xích khóa tay anh VV ... ra sau rồi bắt anh VV ... ngồi lên xe máy; TT... cầm lái, anh VV ... ngồi giữa và Th ... ngồi sau giữ để anh VV ... không bỏ chạy được; GG ... đi xe máy một mình. Khi về đến công trình đang xây dựng (của gia đình chị ...), GG ... và TT... xích, khóa chân, tay của anh VV ... rồi móc vào máy trộn bê tông, úp xô nhựa màu đỏ lên đầu và treo thùng sơn (thùng rỗng) lên cổ anh VV .... Sau đó, GG ... dùng chân, tay đánh, đòi nợ và nói “bây giờ mày trả tao tiền thì tao cho mày về, không tao giao mày cho Công an xã giải quyết”; GG ... buộc anh VV ... gọi điện cho vợ là chị Bùi Thị CC... mang tiền đến trả nhưng chị CC ... không đồng ý; GG ... giằng điện thoại từ anh VV ..., nói chuyện và yêu cầu chị CC ... phải mang 10.000.000 đồng đến trả thay anh VV ...; chị CC ... xin khất nợ nhưng GG ... không đồng ý; Th ... đứng nhìn, không can ngăn rồi vào trong nhà uống nước.
Giáp và TT... quay video, chụp ảnh anh VV ... (đầu đội xô nhựa, cổ treo thùng sơn, chân tay bị trói) phát trực tiếp hình ảnh và video trên mạng xã hội Facebook để hạ nhục và làm cho anh VV ... xấu hổ. Sau đó, GG ... và TT... tháo xích, đưa anh VV ... vào khóa vào gốc cây vối của gia đình ông Tuấn (hàng xóm nhà chị Vân) rồi GG ..., TT... và Th ... đi ăn trưa.
Khoảng 12 giờ 30 phút, anh Nguyễn Khắc ĐD ... (sinh năm ...; trú tại: ..., Hà Nội) phát hiện việc anh VV ... bị trói tại gốc cây nên đã báo cho Trưởng thôn ... và Chính quyền địa phương biết.
Cơ quan điều tra thu giữ của Trương Văn GG ...: 01 dây xích kim loại màu sáng (loại mắt xích đơn); 01 dây xích kim loại màu sáng (loại mắt xích kép); 01 khóa kim loại màu xanh (nhãn hiệu Minh Khai); 01 khóa kim loại màu vàng (nhãn hiệu Việt Nhật); 01 gậy gỗ (91x 3,5x 2) cm; 01 chiếc xô nhựa (đường kính 31cm, cao 35cm); 01 chiếc xô nhựa (đường kính 30cm, cao 20cm); 01 điện thoại di động OPPO F7 (sim1: ..., sim2: ...); 01 căn cước công dân (mang tên Vũ Văn VV ...); 01 thẻ ngân hàng Agribank (mang tên Vũ Văn VV ...); 01 chứng minh nhân dân (mang tên Trương Văn GG ...); 01 xe mô tô Honda (BKS: ...).
+ Thu giữ của Nguyễn Văn Th ...: 01 hộ chiếu số C ... (mang tên Nguyễn Văn Th ...) và 01 điện thoại di động Oppo (sim1: ..., sim2: ...).
+ Thu giữ của Nguyễn Văn TT...: 01 xe máy MIKADO (BKS: ...); 01 điện thoại di động Oppo (sim1: ..., sim2: ...); 01 căn cước công dân (mang tên Nguyễn Văn TT...) và 01 giấy đăng ký xe mô tô (mang tên Lê Văn QQ ...).
+ Thu giữ của Vũ Văn VV ...: 01 chiếc điện thoại di động Mobile (số thuê bao: ...).
Kết quả xác minh tại Bệnh viện Đa khoa ... về thương tích của anh Vũ Văn VV ... (bút lục 149, 150): Vết thương vùng chẩm khoảng 2cm, bờ nham nhở; đau gối phải không thấy bầm tím; sưng đau cổ chân trái (2x2cm); XQ sọ, gối phải, cổ chân trái bình thường. Rửa vết thương, băng cầm máu.
Kết luận giám định số 2000/PC09 (SH) ngày 04/4/2019, Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội (bút lục 68) kết luận: Mẫu máu của anh Vũ Văn VV ... thuộc nhóm máu O; Trên gậy gỗ gửi giám định có dính máu người, do lượng dấu vết ít nên không xác định được nhóm máu.
Bị hại Vũ Văn VV ... từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và ngày 25/02/2019 (bút lục: 156, 418 và 419), anh VV ... đã nhận 32.000.000 đồng do GG ..., TT... và Th ... trực tiếp bồi thường, không yêu cầu gì về dân sự và có Đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các đối tượng gây án.
Tại Bản kết luận giám định số 5270/C09- P6 ngày 19/9/2019 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an đối với các dữ liệu trong 02 điện thoại di động thu giữ của Trương Văn GG ... và Nguyễn Văn TT... (bút lục 70- 72) kết luận:
- Tìm thấy (trong điện thoại Oppo F7- của GG ...):
+ 03 file ảnh người đàn ông bị trói chân bằng dây xích bên cạnh máy trộn bê tông, đầu đội xô nhựa, cổ treo vỏ thùng sơn lưu trữ trong máy điện thoại.
+ Trong tài khoản facebook có tên Truong GG ... Truong GG ... đang đăng nhập trên máy điện thoại, tại thời điểm 22 tháng 2 lúc 11: 36 (theo thời gian hiển thị trên trang facebook) có đăng hình ảnh một người đàn ông bị trói chân bằng dây xích bên cạnh máy trộn bê tông, đầu đội xô nhựa, có 09 lượt thích và 12 bình luận hình ảnh này.
+ 03 file ảnh tìm thấy trong bộ nhớ máy điện thoại và 01 hình ảnh đăng trên tài khoản facebook có tên Truong GG... Truong GG ... thể hiện trong bản ảnh (gồm 04 trang giấy A4) kèm theo.
- Không tìm thấy đoạn video có người đàn ông bị trói vào chân máy trộn bê tông, đầu đội xô nhựa màu đỏ, cổ treo vỏ thùng sơn đã phát trực tiếp lên mạng xã hội (facebook) vào ngày 22/02/2019.
- Không tìm thấy dữ liệu theo yêu cầu giám định trong mẫu vật gửi giám định ký hiệu A2 (trong Điện thoại Oppo A71- của TT...).
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 197/2019/HS- ST ngày 31/12/2019, Toà án nhân dân huyện ..., thành phố Hà Nội đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trương Văn GG ... phạm các tội “Cướp tài sản”, “Bắt, giữ người trái pháp luật” và “Làm nhục người khác”; bị cáo Nguyễn Văn Th ... phạm các tội “Cướp tài sản” và “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168, khoản 1 Điều 157 và điểm e khoản 2 Điều 155, các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 55 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trương Văn GG ... 05 năm tù về tội Cướp tài sản, 08 tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật và 06 tháng tù về tội Làm nhục người khác; tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo GG ... phải chấp hành chung cho cả 03 tội là 06 năm, 02 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ (từ ngày 23/02/2019 đến 25/02/2019).
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168, khoản 1 Điều 157, các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 55 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th ... 04 năm tù về tội Cướp tài sản, 06 tháng tù về tội Bắt giữ người trái pháp luật; tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Th ... phải chấp hành chung cho cả 02 tội là 04 năm, 06 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ (từ ngày 23/02/2019 đến 25/02/2019).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Nguyễn Văn TT... 04, năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản, 06 tháng tù về tội Bắt giữ người trái pháp luật và 06 tháng tù về tội Làm nhục người khác (tổng hợp hình phạt chung là 05, 06 tháng tù); quyết định về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/01/2020, bị cáo Trương Văn GG ... có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 13/01/2020, bị cáo Nguyễn Văn Th ... có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phân tích về nội dung vụ án và lập luận: Trong vụ án, bị hại có lỗi, chây ì không trả nợ là nguyên nhân của tội phạm; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo, sửa án và giảm nhẹ hình phạt đối với cả ba bị cáo về tội Cướp tài sản; cụ thể:
- Xử phạt bị cáo Trương Văn GG ... từ 36 tháng đến 48 tháng tù, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn TT... từ 30 tháng đến 36 tháng tù và xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th ... từ 24 tháng đến 30 tháng tù, đề về tội Cướp tài sản;
- Giữ nguyên các quyết định của Bản án sơ thẩm về các tội danh Bắt, giữ người trái pháp luật và Làm nhục người khác, điều luật áp dụng và hình phạt đối với các bị cáo Trương Văn GG ..., Nguyễn Văn TT... và Nguyễn Văn Th ...;
- Các quyết định về xử lý vật chứng và án phí sơ thẩm không có kháng cáo và kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của các bị cáo Trương Văn GG ... và Nguyễn Văn Th ... phù hợp các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự về chủ thể và thời hạn kháng cáo nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Trương Văn GG ... và Nguyễn Văn Th ... cơ bản khai nhận các hành vi đã thực hiện nhưng không thừa nhận tội danh Cướp tài sản. Hội đồng xét xử căn cứ lời khai của các bị cáo tại Cấp sơ thẩm và xét thấy các lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, lời khai của bị hại, người có quyền lợi liên quan đến vụ án và người làm chứng, phù hợp các vật chứng đã thu giữ, các tài liệu về hiện trường vụ án và lời khai của các bị cáo GG ... và Th ... trình bày tại phiên tòa phúc thẩm về các hành vi đã thực hiện, phù hợp các các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án- Đủ cơ sở kết luận: Trưa ngày 22/02/2019, tại đường liên thôn .. (thuộc địa bàn ..., thành phố Hà Nội), Trương Văn GG ..., Nguyễn Văn TT... và Nguyễn Văn Th ... đã sử dụng gậy gỗ vụt và dùng chân, tay đấm, đá anh Vũ Văn VV ... và buộc anh VV ... phải trả nợ ngay cho GG ... là 10.000.000 đồng và trả nợ ngay cho TT... là 2.000.000 đồng; sau đó, GG ..., TT... và Th ... ép buộc anh VV ... về căn nhà đang xây dựng của gia đình chị ... (cùng thôn ... và cách đó khoảng 700m), dùng dây xích sắt và khóa để xích anh VV ... vào máy trộn bê tông; GG ... và TT... dùng điện thoại di động chụp ảnh, quay video rồi đưa hình ảnh của anh VV ... (bị xích chân và tay, đầu bị chụp xô xách vữa, cổ bị treo thùng đựng sơn) lên mạng xã hội để hạ nhục anh VV ...; sau đó, GG ... và TT... xích anh VV ... vào gốc cây để đi ăn trưa. Hành vi của Trương Văn GG ... đã phạm các tội “Cướp tài sản”, “Bắt, giữ người trái pháp luật” và “Làm nhục người khác”; hành vi của Nguyễn Văn Th ... đã phạm các tội “Cướp tài sản” và “Bắt, giữ người trái pháp luật”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168, khoản 1 Điều 157 và điểm e khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự; Bản án sơ thẩm đã quy kết các bị cáo GG ... và Th ... theo các tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo Trương Văn GG ... và Nguyễn Văn Th ... là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm sức khỏe và tài sản của người khác, xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tự do cá nhân của công dân và xâm phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xử lý nghiêm minh để cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Bị cáo Trương Văn GG ... là đối tượng chủ mưu, khởi xướng, chỉ huy và tích cực thực hành hành vi phạm tội nên bị cáo GG ... có vai trò cao nhất, chịu trách nhiệm chính trong đồng phạm; bị cáo GG ... có nhân thân tốt và không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, "tích cực bồi thường, khắc phục hậu quả", "thành khẩn khai báo", “bố của bị cáo có Công và được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạnh nhì”, "bị hại có một phần lỗi- chây ì không trả nợ" và "bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo" là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và đã được Bản án sơ thẩm xem xét, áp dụng đối với các bị cáo GG .... Bản án sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đúng tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, vai trò của bị cáo trong đồng phạm, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và xử phạt bị cáo GG ... 05 năm tù về tội Cướp tài sản, 08 tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật và 06 tháng tù về tội Làm nhục người khác (tổng hợp hình phạt là 06 năm, 02 tháng tù) là có căn cứ, đúng pháp luật nên không đủ căn cứ ghi nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội về việc giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo GG .... Hội đồng xét xử quyết định không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về các tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo Trương Văn GG ..., đủ tác dụng để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Bị cáo Nguyễn Văn Th ... không phải là đối tượng chủ mưu và chỉ huy nhưng khi biết rõ các bị cáo GG ... và TT... sẽ bắt và tấn công bị hại để đòi tiền nợ thì bị cáo Th ... vẫn tham gia đi cùng đến địa điểm chặn đánh bị hại và đã cầm giúp bị cáo GG ... 01 Th ... gỗ; mặc dù bị cáo Th ... không trực tiếp đánh hoặc tấn công bị hại nhưng bị cáo Th ... có mặt tại địa điểm gây án cùng các đồng phạm có tác dụng hỗ trợ về tinh thần, khích lệ quyết tâm cho các đồng phạm thực hiện tội phạm; bị cáo Th ... ngồi sau xe máy và ôm bị hại (để bị hại không bỏ chạy được) trong quá trình bắt và đưa bị hại từ đường liên thôn về công trình đang xây dựng nên bị cáo Th ... có vai trò thấp nhất trong đồng phạm về tội Cướp tài sản và tội Bắt, giữ người trái pháp luật. Bị cáo Th ... có nhân thân tốt và không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, "tích cực bồi thường, khắc phục hậu quả", "thành khẩn khai báo", "bị hại có một phần lỗi- chây ì không trả nợ" và "bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo" là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Th ... 04 năm tù về tội Cướp tài sản là có phần nghiêm khắc, bởi lẽ: Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có vai trò giúp sức trong đồng phạm và không hưởng lợi. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm và giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Th ... về tội Cướp tài sản; giữ nguyên mức hình phạt về tội Bắt, giữ người trái pháp luật đối với bị cáo Th ...; đủ tác dụng để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Ngày 22/02/2019, Cơ quan điều tra cấp sơ thẩm đã ban hành các Quyết định tạm giữ số 123/CQĐT- CSHS, số 125 CQĐT- CSHS (bút lục số 76 và 112) đối với các bị cáo Trương Văn GG ... và Nguyễn Văn Th ...; Bản án sơ thẩm đã xác định thời điểm bắt đầu tạm giữ là ngày 23/02/2019 là không chính xác; vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm về thời điểm bắt đầu tạm giữ nêu trên cho phù hợp các tình tiết khách quan của vụ án và nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bị cáo trong vụ án.
Bị cáo Nguyễn Văn TT... không phải là đối tượng chỉ huy nhưng bị cáo TT... tham gia từ đầu, khởi xướng và tích cực thực hành hành vi phạm tội nên bị cáo TT... có vai trò thứ hai trong đồng phạm về các tội Cướp tài sản, Bắt, giữ người trái pháp luật và Làm nhục người khác. Bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo TT... 04 năm, 06 tháng tù về tội Cướp tài sản, 06 tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật và 06 tháng tù về tội Làm nhục người khác (tổng hợp hình phạt là 05 năm, 06 tháng tù) là có căn cứ, đúng pháp luật, tương xứng với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nhân thân và vai trò của bị cáo trong đồng phạm nên không có căn cứ để ghi nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo TT.... Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 343 Bộ luật tố tụng hình sự.
Theo quy định tại các điểm a và h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo GG ... phải nộp án phí hình sự phúc thẩm, bị cáo Th ... không phải nộp án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ các điểm a và b khoản 1 Điều 355, Điều 356 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Văn GG ...; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Th ...; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 197/2019/HS- ST ngày 31/12/2019 của Toà án nhân dân huyện ..., thành phố Hà Nội đối với các bị cáo Trương Văn GG ... và Nguyễn Văn Th ...:
* Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, khoản 1 Điều 157, điểm e khoản 2 Điều 155, các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 54, 55 và 58 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trương Văn GG ... 05 (năm) năm tù về tội Cướp tài sản, 08 (tám) tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật và 06 (sáu) tháng tù về tội Làm nhục người khác; tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Trương Văn GG ... phải chấp hành chung cho cả 03 tội là 06 (sáu) năm, 02 (hai) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ (từ ngày 22/02/2019 đến 25/02/2019).
* Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, khoản 1 Điều 157, các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 54, 55 và 58 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th ... 03 (ba) năm tù về tội Cướp tài sản, 06 (sáu) tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật; tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Văn Th ... phải chấp hành chung cho cả 02 tội là 03 (ba) năm, 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ (từ ngày 22/02/2019 đến 25/02/2019).
2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; các điểm a và h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án:
- Buộc bị cáo Trương Văn GG ... phải nộp 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Bị cáo Nguyễn Văn Th ... không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Văn TT..., về xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND huyện ...; - Công an huyện ...; - TAND huyện ...; - Chi cục THADS huyện ...; - Các bị cáo kháng cáo; - UBND cấp xã nơi BC cư trú; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA PHẠM NĂNG THÀNH |