- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Võ Quang L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Võ Quang L.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 264/2020/HS-PT Ngày 22-5-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Chánh Trung
Các Thẩm phán:
Ông Lê Hoàng Tấn
Bà Đinh Ngọc Thu Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 671/2019/TLPT-HS ngày 25 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo Võ Quang L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2019/HS-ST ngày 12 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Bị cáo có kháng cáo:
Võ Quang L, sinh ngày 11/5/1999; sinh quán: Cần Thơ; HKTT: Ấp Nhơn Thọ 2, xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ; nơi ở hiện nay: ấp 3, xã Long Định, huyện Cần Đước, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Võ Minh T, sinh năm 1981; con bà Bùi Thị Ái Q, sinh năm 1977;
Tiền án, Tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/6/2019 đến ngày 26/6/2019 thì được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Quang L, sinh ngày 11/5/1999, hộ khẩu thường trú: Ấp Nhơn Thọ 2, xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, hiện sống cùng cha mẹ ruột tại Ấp 3, xã Long Định, huyện Cần Đước, tỉnh Long An. Tháng 03 năm 2018, L xin vào làm công nhân bộ phận ép nhiệt của Công ty TNHH Hui Feng có 100% vốn đầu tư nước ngoài, địa chỉ: Khu phố 9, thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Trong quá trình làm ca đêm (từ 19 giờ 30 phút đến 4 giờ 30 phút sáng hôm sau), L thấy tại bộ phận đúc khuôn không có người quản lý nên nảy sinh ý định trộm tài sản để bán lấy tiền tiêu xài.
Khoảng 03 giờ 20 phút ngày 14/6/2019, L đi vào bộ phận đúc khuôn, thấy có 01 tủ sắt đựng nguyên liệu bị khóa, L lấy một cái búa để ở gần đó đập ổ khóa, mở tủ lấy trộm 01 tấm kim loại bằng đồng kích thước 40 cm x 50 cm, trọng lượng 18,3kg, sau đó khóa tủ lại rồi đem tấm kim loại bằng đồng vừa trộm được bỏ ở phía bên ngoài tường rào của Công ty cất giấu. Khoảng 05 giờ cùng ngày, sau khi tan ca, L điều khiển xe mô tô biển số 65G1-269.34 đến khu vực tường rào của Công ty, nơi đã cất giấu tấm kim loại bằng đồng vừa trộm được, L lấy tấm kim loại bằng đồng đặt lên baga xe mô tô thì bị anh Nguyễn Võ Thủ, sinh năm 1995, ngụ ấp 2, xã Vị Đông, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang là bảo vệ của Công ty TNHH Hui Feng phát hiện chặn lại. Anh Thủ dùng máy bộ đàm thông báo cho 02 bảo vệ khác nữa là anh Nguyễn Bội Ngọc và Sơn Trường Thọ đến hỗ trợ. Lúc này, L nhanh chóng điều khiển xe mô tô bỏ chạy.
Sáng ngày 14/6/2019, ông Võ Minh T là cha ruột của L, cũng là công nhân của Công ty TNHH Hui Feng đến Công ty để làm việc thì được thông báo là L trộm cắp tài sản của Công ty, bị bảo vệ phát hiện nên đã bỏ trốn. Đến ngày 17/6/2019, ông Tùng đưa L đến Công an thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An đầu thú.
Trong quá trình điều tra, L khai nhận ngoài lần bị bắt quả tang, L đã 02 lần thực hiện việc trộm cắp tài sản của Công ty TNHH Hui Feng, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào khoảng tháng 5 năm 2019, L đi vào bộ phận ép nhiệt của Công ty, nhìn thấy tủ đựng nguyên liệu bị khóa, L tìm xung quanh thì thấy có chìa khóa nên mở tủ lấy trộm 01 tấm kim loại bằng đồng kích thước 40 cm x 50 cm, trọng lượng 22kg, sau đó khóa tủ lại rồi đem tấm kim loại bằng đồng vừa trộm được cất giấu phía bên ngoài tường rào Công ty.
Lần thứ hai: Ngày 11/6/2019, L đi vào bộ phận ép nhiệt của Công ty, nhìn thấy tủ đựng nguyên liệu bị khóa, L tìm xung quanh không thấy chìa khóa, L thấy gần đó có 01 cái búa nên L dùng búa đập ổ khóa mở tủ lấy trộm 02 tấm kim loại bằng đồng, mỗi tấm có kích thước 40 cm x 50 cm, trọng lượng 22kg, sau đó khóa tủ lại rồi đem 02 tấm kim loại bằng đồng vừa trộm được cất giấu phía bên ngoài tường rào Công ty.
Cả hai lần trộm này, sau khi tan ca L đến khu vực tường rào để lấy các tấm kim loại bằng đồng vừa trộm được rồi chở đến vựa thu mua phế liệu của chị Trần Thị C, sinh năm 1964 ngụ tại ấp 3, xã Long Định, huyện Cần Đước, tỉnh Long An bán được tổng cộng là 4.228.000 đồng. Ông Võ Minh T đã tự nguyện đến gặp chị Trần Thị C để mua lại 03 tấm đồng mà L đã bán, sau đó giao nộp cho Cơ quan điều tra huyện Bến Lức.
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:
- 01 tấm kim loại bằng đồng, kích thước 40cm x 50cm, trọng lượng 18,3kg.
- 03 tấm kim loại bằng đồng, mỗi tấm có kích thước 40cm x 50cm, trọng lượng 22kg.
- 01 cái búa bằng kim loại hình chữ T.
- 01 ổ khóa màu đen.
Tất cả vật chứng này đều thuộc sở hữu của Công ty TNHH Hui Feng. Ngày 25/6/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Lức đã trả lại tất cả tài sản trên cho Công ty. Công ty TNHH Hui Feng đã nhận tại tất cả tài sản nên không yêu cầu bồi thường gì nữa. Ông Zheng Xiao Feng là Giám đốc Công ty đã có đơn xin bãi nại cho bị can Võ Quang L.
Đối với xe mô tô biên số 65G1-269.34 là của ông Võ Minh T nên Cơ quan điều tra không thu giữ đối với xe mô tô trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 42 ngày 18/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện Bến Lức kết luận:
- 03 tấm kim loại bằng đồng, 40cm x 50cm, trọng lượng mỗi tấm 22kg có giá trị 9.900.000 đồng.
- 01 tấm kim loại bằng đồng, 40cm x 50cm, trọng lượng 18,3kg có giá trị 2.745.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là 12.645.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2019/HS-ST ngày 12/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã quyết định:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; Điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Võ Quang L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Võ Quang L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Võ Quang L kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa cấp phúc thẩm hôm nay bị cáo Võ Quang L vẫn giữ nguyên theo yêu cầu kháng cáo nêu trên.
Tại Tòa Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị phúc xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Quang L, giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Đơn kháng cáo của bị cáo Võ Quang L làm trong hạn luật định, nên được coi là hợp lệ.
Xét về nội dung của vụ án thì thấy:
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo Võ Quang L thừa nhận là bị cáo làm công nhân ép nhiệt của Công ty TNHH Hui Feng tại thị trấn Bến Lức có vốn 100% đầu tư của nước ngoài, sau khi lấy cắp 04 tấm kim loại bằng đồng của Công ty bị cáo đem ra bên ngoài tường rào cất giấu, sau khi tan ca khoảng 05h sáng ngày 14/6/2019, bị cáo dùng xe moto của bị cáo sử dụng hằng ngày đi làm việc đến điểm cất giấu tang vật để trở đi bán thì bị bảo vệ Công ty phát hiện, bị cáo bỏ trốn đến ngày 17/6/2019 bị cáo ra đầu thú tại Công an thị trấn Bến Lức theo động viên của gia đình, tang vật 04 tấm kim loại được thu lại và trả lại cho Công ty, theo Kết luận giám định ngày 18/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Bến Lức thì 04 tấm kim loại bị cáo trộm nêu trên có giá trị là 12.465.000 đồng, trong quá trình điều tra bị cáo có khai nhận trước đó có 02 lần bị cáo trộm 03 tấm kim loại bằng đồng của Công ty đi bán cho vựa thu mua phế liệu của bà Trần Thị C huyện Cần Đước được 4.228.000 đồng. Cha của bị cáo là ông Võ Minh T có đến gặp bà Cúc để chuộc lại 03 tấm kim loại nêu trên để trả lại công ty, phía Công ty TNHH Hui Feng đã nhận lại đủ tài sản và có đề nghị Tòa án xem xét xử phạt bị cáo với mức nhẹ nhất.
Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với vật chứng đã thu giữ nên có cơ sở kết luận bị cáo Võ Quang L phạm tội trộm cắp như án sơ thẩm đã xử.
Bị cáo phạm tội nhiều lần rơi vào tình tiết điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là ra đầu thú, khai báo thành khẩn tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho người bị hại (khắc phục xong hậu quả), Tòa án cấp sơ thẩm bị cáo 09 tháng tù là trong khung quy định của hình phạt. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội thược trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản thu hồi khắc phục hậu quả, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có lý lịch rõ ràng, cơ quan bị thiệt hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xét thấy không cần thiết phải phạt tù giam đối với bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ để giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân tốt có ích cho xã hội. Nên chấp nhập kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.
Quan điểm đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát không phù hợp với nhận định trên nên không được chấp nhận.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản b Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Võ Quang L.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Võ Quang L 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo thời gian thử thách là 18 tháng, thời gian thử thách kể từ ngày 22/5/2020, giao bị cáo cho UBND xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt chung của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
Các quyết định còn lại của bản án sơ thẩm xét xử không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Bị cáo Võ Quang L không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày 22/5/2020./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại Tp. Hồ Chí Minh; - TAND tỉnh Long An; - VKSND tỉnh Long An; - Sở tư pháp tỉnh Long An; - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An; - Công an tỉnh Long An; - Bị cáo; - UBND xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ (thay cho việc thông báo bằng văn bản); - UBND xã Long Định, huyện Cần Đước, tỉnh Long An (thay cho việc thông báo bằng văn bản); - Lưu văn phòng, hồ sơ vụ án ( ĐTT-17). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Chánh Trung |