vanban.org

Bản án 263/2026/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 24/04/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước các vật chứng gồm:

306 (ba trăm lẻ sáu) viên kim cương; 01 (một) gói kim cương dạng hạt tấm (Kích thước 0,8 – 2,6mm; tổng trọng lượng 137,84 cts); Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Chí H - vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (điều 189 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tịch thu sung ngân sách Nhà nước các vật chứng gồm:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 263/2026/HS-ST
Ngày: 24 - 4 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Viết Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Thiều Đình Thu

2. Bà Lê Thị Bích Dung

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thăng - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 1376/2025/HSST ngày 26/12/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2537/2026/QĐXXST-HS ngày 13/4/2026 đối với:

Lưu Chí H; Giới tính: Nam; Sinh năm 1970 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: chung cư A, phường M, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở: chung cư B, phường M, thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: buôn bán; Học vấn: lớp 9/12; Họ tên cha: Tchao N; Họ tên mẹ: Lưu Mùi M; Vợ: Lâm Tú C (Đã ly hôn); Con có 02 con; Tiền án, tiền sự: không.

Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ ngày 17/01/2010, Chi cục Hải quan sân bay Tân Sơn Nhất và Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra Lưu Chí H đi trên chuyến bay từ Hồng Kông đến Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện H mang theo trong người một số lượng lớn kim cương, nữ trang không khai báo hải quan theo quy định, cụ thể thu giữ: 306 viên đá dạng hạt và 1 gói đá dạng hạt tấm, 10 lắc đeo tay, 02 dây đeo cổ, 01 đôi bông tai; 13 cartolo lớn và 47 cartolo nhỏ ghi bằng tiếng nước ngoài GIA Report (Giấy chứng nhận chất lượng).

Lưu Chí H khai nhận làm nghề buôn bán tự do nên thường sang Hồng Kông mua hàng về Việt Nam bán. Năm 2009, qua bạn bè giới thiệu, H có quen với một đối tượng tên L không rõ nhân thân, lai lịch. Ngày 15/01/2010, L thuê H mang một số nữ trang về Việt Nam, nếu trót lọt L sẽ trả công cho H 500 USD. Chiều ngày 16/01/2010, L giao cho H số nữ trang nêu trên và yêu cầu không được khai báo hải quan vì khai báo sẽ phải đóng thuế, không có lợi nhuận, H đồng ý. Ngày 17/01/2010, khi H mang số nữ trang về đến sân bay Tân Sơn Nhất thì bị Hải quan kiểm tra thu giữ.

Theo Biên bản ngày 18/01/2020 số tang vật gồm:

- 02 gói nylon màu đen, bên trong gồm 306 viên đá, dạng hạt và 01 gói đá, dạng hạt tấm nghi là kim cương;

- 01 gói thuốc lá, bỏ trong túi áo khoác, trong đó đựng: 10 lắc đeo tay, 02 dây đeo cổ, 01 đôi bông tai kim loại màu xám bạc;

- 13 tờ giấy lớn và 47 tờ giấy nhỏ, có tiêu đề Giấy chứng nhận chất lượng bằng tiếng nước ngoài.

Ngày 20/01/2020, Công ty TNHH Giám định R có Phiếu kiểm định số G 19840, xác định toàn bộ số đá thu được là kim cương thiên nhiên, 10 lắc đeo tay, 02 dây cổ, 01 đôi bông tai có hàm lượng vàng 57%. Giá tham khảo toàn bộ lô hàng là 7.346.000.000 đồng.

Ngày 13/4/2010, Cục Hải quan Thành phố gửi toàn bộ 03 gói hàng là tang vật của vụ án đã được niêm phong chi tiết như sau: gói 1: AA/08-279365, AA/08-279366; gói 1: AA/08-279338, AA/08-279339; gói 3: AA/08-279367, AA/08-279368 cho vào một túi vải mang ký hiệu 04/KB/2010 gửi tại Kho bạc Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh (viết tắt là KBNN Thành phố).

Bản án hình sự sơ thẩm số 159/2011/HSST ngày 17/6/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định: tuyên bố bị cáo Lưu Chí H phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”. Áp dụng khoản 3 Điều 154; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự xử phạt Lưu Chí H 08 năm tù.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự, tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 túi vải mang số 04/KB/2010.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị.

Ngày 16/6/2023, Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 159/2011/HSST ngày 17/6/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng hủy một phần bản án hình sự sơ thẩm nêu trên về phần xử lý vật chứng để xét xử lại.

Ngày 20/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 15/QĐ-VC3-V1 về việc xác minh tình tiết mới đối với vụ án Lưu Chí H phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” theo thủ tục tái thẩm.

Tại Quyết định kháng nghị tái thẩm số 12/QĐ-VC3-V1 ngày 26/4/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị Bản án hình sự sơ thẩm số 159/2011/HS-ST ngày 17/6/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử theo hướng hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên về phần xử lý vật chứng để xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật.

Ngày 10/9/2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 62/2024/HS-ST, chấp nhận Quyết định kháng nghị tái thẩm số 12/QĐ-VC3-V1 ngày 26/4/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 159/2011/HS-ST ngày 17/6/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần xử lý vật chứng “Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 túi vải mang số 04/KB/2010”. Chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số 280/CT-VKS-P3 ngày 04/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử đối với phần vật chứng chứa trong túi vải niêm phong mới có ký hiệu 65/2025/CCHQKVII, do Chi Cục Hải quan Khu vực II gửi tại Kho bạc Nhà nước Khu vực II, theo Phiếu nhập kho số 80/NK/2025; Biên bản số 62/2025/BBBG-CCHQKVII ngày 16/9/2025.

Trách nhiệm hình sự của bị cáo Lưu Chí H đã được giải quyết bằng Bản án hình sự sơ thẩm số 159/2011/HS-ST ngày 17/6/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử:

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 306 viên kim cương thiên nhiên, 01 gói Kim cương hạt tâm; 10 lắc đeo tay, 02 dây đeo cổ, 01 đôi bông tai bằng kim lọai màu xám bạc tổng trọng lượng: 450,54 g (* 120,14 chi), hàm lượng vàng 57% (danh mục đính kèm kết quả theo phiếu kiểm định mã số G19840 ngày 20/01/2010); chứa trong 02 gói/ hộp có niêm phong hải quan số AA/08 – 279338, AA/08 – 279339 và niêm phong hải quan số AA/08 – 279367; AA/08 – 279368 như mô tả nêu trên, được Chi Cục Hải quan Khu vực II gửi tại KBNN khu vực II và đã được niêm phong chứa bên trong túi vải mang ký hiệu 65/2025/CCHQKVII theo Phiếu nhập kho số 80/NK/2025 và Biên bản số 62/2025/BBBG-CCHQKVII lập tại KBNN khu vực II.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra Lưu Chí H không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Vào khoảng 23 giờ ngày 17/01/2010, Đội Kiểm soát và Đội Thủ tục hành lý nhập của Chi cục Hải quan sân bay Tân Sơn Nhất tiến hành kiểm tra, bắt quả tang đối với Lưu Chí H và lập Biên bản ngày 18/01/2020 đối với số tang vật gồm:

- 02 gói nylon màu đen, bên trong gồm 306 viên đá, dạng hạt và 01 gói đá, dạng hạt tấm nghi là kim cương;

- 01 gói thuốc lá, bỏ trong túi áo khoác, trong đó đựng: 10 lắc đeo tay, 02 dây đeo cổ, 01 đôi bông tai kim loại màu xám bạc;

- 13 tờ giấy lớn và 47 tờ giấy nhỏ, có tiêu đề Giấy chứng nhận chất lượng bằng tiếng nước ngoài.

Ngày 20/01/2020, Công ty TNHH Giám định R có Phiếu kiểm định số G 19840, xác định toàn bộ số đá thu được là kim cương thiên nhiên, 10 lắc đeo tay, 02 dây cổ, 01 đôi bông tai có hàm lượng vàng 57%. Giá tham khảo toàn bộ lô hàng là 7.346.000.000 đồng.

Bản án hình sự sơ thẩm số 159/2011/HSST ngày 17/6/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định: tuyên bố bị cáo Lưu Chí H phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”. Áp dụng khoản 3 Điều 154; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự xử phạt Lưu Chí H 08 năm tù.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự, tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 túi vải mang số 04/KB/2010.

Tại Quyết định kháng nghị tái thẩm số 12/QĐ-VC3-V1 ngày 26/4/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị Bản án hình sự sơ thẩm số 159/2011/HS-ST ngày 17/6/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử theo hướng hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên về phần xử lý vật chứng để xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật.

Ngày 10/9/2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 62/2024/HS-ST, chấp nhận Quyết định kháng nghị tái thẩm số 12/QĐ-VC3-V1 ngày 26/4/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 159/2011/HS-ST ngày 17/6/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần xử lý vật chứng “Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 túi vải mang số 04/KB/2010”. Chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với phần trách nhiệm hình sự của Lưu Chí H đã được giải quyết bằng Bản án hình sự sơ thẩm số 159/2011/HS-ST ngày 17/6/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, bản án đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị. Do đó, trong phạm vi xét xử của vụ án này, Hội đồng xét xử không xem xét lại trách nhiệm hình sự đối với Lưu Chí H mà chỉ xem xét phần xử lý vật chứng theo Quyết định tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Xét nguồn gốc số vật chứng gồm: 306 viên kim cương, 01 gói kim cương hạt tấm (Kích thước 0,8 – 2,6mm; tổng trọng lượng 137,84 cts); 10 lắc đeo tay, 02 dây đeo cổ, 01 đôi bông tai bằng kim loại màu xám bạc có hàm lượng vàng 57%, tổng giá trị theo kết luận giám định là 7.346.000.000 đồng. Đây là tài sản do Lưu Chí H vận chuyển trái phép qua biên giới mà có, bị phát hiện, thu giữ tại thời điểm bị bắt quả tang. Lưu Chí H không xuất trình được giấy tờ hợp pháp chứng minh nguồn gốc hợp pháp của số tài sản này, đồng thời thừa nhận được một đối tượng tên L thuê vận chuyển trái phép nhằm trốn tránh nghĩa vụ khai báo hải quan và nghĩa vụ thuế.

Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999 (nay là điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015) và điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (nay là Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015), đối với vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành hoặc vật do phạm tội mà có thì phải bị tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Xét thấy toàn bộ số kim cương, nữ trang nêu trên là tài sản có giá trị lớn, do hành vi phạm tội mà có, việc tịch thu sung ngân sách Nhà nước là phù hợp với quy định pháp luật, đồng thời đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung. Đối với các giấy chứng nhận chất lượng (GIA Report) đi kèm, đây là tài liệu liên quan trực tiếp đến số tài sản phạm pháp, không có giá trị sử dụng độc lập, cần tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.

Về tình tiết mới làm căn cứ kháng nghị tái thẩm: Việc bản án sơ thẩm trước đây tuyên tịch thu “01 túi vải mang số 04/KB/2010” là chưa xác định rõ, cụ thể từng loại tài sản bên trong, dẫn đến khó khăn trong thi hành án và chưa bảo đảm đúng quy định pháp luật về xử lý vật chứng. Do đó, việc kháng nghị và hủy một phần bản án để xét xử lại phần xử lý vật chứng là có căn cứ, đúng quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước toàn bộ số vật chứng nêu trên là có căn cứ, phù hợp với tính chất, nguồn gốc tài sản và quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các vấn đề khác của vụ án không thuộc phạm vi xét xử trong lần xét xử này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, xử lý vật chứng theo đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước các vật chứng gồm:

+ 306 (ba trăm lẻ sáu) viên kim cương;

+ 01 (một) gói kim cương dạng hạt tấm (Kích thước 0,8 – 2,6mm; tổng trọng lượng 137,84 cts);

+ 10 (mười) lắc đeo tay;

+ 02 (hai) dây đeo cổ;

+ 01 (một) đôi bông tai bằng kim loại màu xám bạc, tổng trọng lượng 450,54 gam (*120,14 chi), hàm lượng vàng 57% (theo Phiếu kiểm định số G19840 ngày 20/01/2010 của Công ty TNHH Giám định R);

Toàn bộ số vật chứng nêu trên được chứa trong 02 gói/hộp có niêm phong hải quan số AA/08–279338, AA/08–279339 và AA/08–279367, AA/08–279368; hiện được niêm phong trong túi vải mang ký hiệu 65/2025/CCHQKVII theo Phiếu nhập kho số 80/NK/2025 và Biên bản số 62/2025/BBBG-CCHQKVII ngày 16/9/2025 tại Kho bạc Nhà nước khu vực II.

Đối với các giấy chứng nhận chất lượng (GIA Report) kèm theo: tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.

Các vấn đề khác của vụ án đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 159/2011/HS-ST ngày 17/6/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, có hiệu lực pháp luật, không xem xét lại.

Lưu Chí H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ