vanban.org

Bản án 263/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 09/03/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T1.

Về hôn nhân: Bà T1 được ly hôn ông T2. Về con chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "263"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T1.
  • Căn cứ chính? Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 263/2023/HNGĐ-ST
Ngày 09-3-2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Hễ;

2. Bà Lê Thị Nhanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Thanh Bình – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 03 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 949/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà T1 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Phường X, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông T2 (vắng mặt).

Địa chỉ: USA.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 29 tháng 12 năm 2021 và lời khai của nguyên đơn – bà T1 thì: Bà và ông T2 kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 89 ngày 13/7/2016 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Sau khi kết hôn, ông T2 quay về Hoa Kỳ. Từ tháng 7/2016 đến tháng 10/2016, Bà và ông T2 có liên lạc qua điện thoại, hai bên có nói chuyện về phương án đoàn tụ tại Hoa Kỳ, tuy nhiên, ông T2 không muốn bảo lãnh Bà sang Hoa Kỳ. Từ cuối năm 2016 đến nay, Bà và ông T2 đã không còn liên lạc. Do tình cảm không còn, khả năng đoàn tụ không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên Bà đề nghị ly hôn ông T2. Về con chung: Không có con chung. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có. Bà đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt Bà. Tòa án đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ, nơi bị đơn – ông T2 cư trú để tống đạt Thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa cho ông T2 và yêu cầu ông T2 trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà T1 nhưng ông T2 không có văn bản trả lời và vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa sơ thẩm: Kiểm sát viên phát biểu: Về tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về địa vị tố tụng và đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Bà T1 khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông T2 đang cư trú tại Hoa Kỳ, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn – bà T1 có đơn đề nghị Tòa án không hòa giải và xét xử vắng mặt; Tòa án đã lập hồ sơ ủy thác tư pháp tống đạt các văn bản tố tụng, yêu cầu cung cấp bản khai và thông báo ngày, giờ, địa điểm xét xử nhưng đến thời điểm xét xử Tòa án vẫn không nhận được phản hồi của bị đơn - ông T2, nên căn cứ Khoản 1 Điều 228 và Khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T1 và ông T2. [2] Về áp dụng pháp luật nội dung: Về hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 89 ngày 13/7/2016 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp thì giữa bà T1 và ông T2 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo trình bày của bà T1 thì trong thời kỳ hôn nhân, giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn về quan điểm sống, định hướng tương lai, vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2016 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T1 yêu cầu ly hôn ông T2. Xét trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã không có văn bản nêu ý kiến và cũng không đến Tòa án để đưa ra giải pháp để vợ chồng đoàn tụ, cả hai hiện có khoảng cách địa lý nên tình cảm vợ chồng không tồn tại, đây là căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa hai người không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà T1 khởi kiện yêu cầu ly hôn nên bà T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 37; Điều 38; Khoản 4 Điều 147; Khoản 4 Điều 207; Khoản 1 Điều 273 và Khoản 1, Khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Điều 19 và Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ vào Khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T1.

Về hôn nhân: Bà T1 được ly hôn ông T2.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0001541 ngày 14 tháng 01 năm 2022 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T1 đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn – bà T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án; bị đơn – ông T2 được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.

Cỡ chữ