- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thanh - Hiền"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phan Thị Tuyết T được ly hôn với anh Nguyễn Trung H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 263/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24-8-2023 V/v : “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Lộc;
2. Ông Lương Văn Khánh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Tấn Tiến, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Cẩm Lệ - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 136/2023/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 5 năm 2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1390/2023/QĐXX-HNGĐ, ngày 12 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên Toà số 1401/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 03 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phan Thị Tuyết T, sinh năm 1972 (Có mặt)
Trú tại: Thôn Đ, xã M, huyện P, tỉnh B.
Bị đơn: Anh Nguyễn Trung H, sinh năm 1974 (Vắng mặt)
Trú tại: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 02 năm 2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại Toà hôm nay nguyên đơn chị Phan Thị Tuyết T trình bày:
Trước khi kết hôn chị và và anh Nguyễn Trung H qua thời gian tìm hiểu, thì tự nguyện tiến tới hôn nhân, đăng ký kết hôn vào ngày 20/11/2006, tại UBND xã M, huyện P, tỉnh B. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian, thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm sống, anh H sống không có trách nhiệm với vợ con, mà còn vũ phu đánh chị nhiều lần, nên từ tháng 5/2022 cho đến nay vợ chồng không còn chung sống với nhau nữa. Trong khoảng thời gian sống ly thân vợ chồng không quan tâm gì đến nhau và tháng 10/2022 chị đã làm đơn xin hôn với anh H, nhưng sau đó chị vì nghĩ đến con nên rút đơn lại để vợ chồng hàn gắn chung sống với nhau, nhưng anh H vẫn tính nào tật ấy, vì vậy nay xét thấy tình cảm không còn, đời sống chung không thể thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu Toà giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.
-Về quan hệ nuôi con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung tên Nguyễn Trung Q, sinh ngày 04/8/2006, hiện con đang ở với chị. Nay ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
-Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung, không có nợ gì ai, nên không yêu cầu Toà giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Trung H, mặc dù đã được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng anh H không có ý kiến trình bày gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Tại phiên Tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P phát biểu:
-Về thủ tục tố tụng Tòa án, Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
-Về nội dung vụ án:
-Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phan Thị Tuyết T, cho chị T được ly hôn với anh H.
-Về quan hệ nuôi con chung: Giao con chung chị T, anh H là Nguyễn Trung Q, sinh ngày 04/8/2006 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng (hiện con đang ở với chị T), chị T không yêu cầu anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nên đề nghị không xét.
-Về quan hệ tài sản chung: Chị T xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung, nên không xét.
-Về án phí: Chị T chịu 300.000đ sung ngân sách nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết của Tòa án và thủ tục tố tụng:
Đây là vụ án Hôn nhân gia đình tranh chấp về ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án này có bị đơn là anh Nguyễn Trung H đang cư trú tại huyện P, tỉnh B, nên thuộc thầm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh B theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án đã triệu tập bị đơn anh Nguyễn Trung H hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên Toà, nhưng anh H vắng mặt không có lý do, cũng không trở ngại khách quan, nên căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227, Toà án xét xử vắng mặt anh H.
Về nội dung vụ án: Chị Phan Thị Tuyết T và anh Nguyễn Trung H tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân, đăng ký kết hôn vào ngày 20/11/2006, tại UBND xã Mỹ H, huyện P, tỉnh B. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian, thì phát sinh mâu thuẫn, nên chị T, yêu cầu ly hôn với anh H, với lý do vợ chồng không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm sống, anh H sống không có trách nhiệm với vợ con, nên từ tháng 5/2022 cho đến nay vợ chồng không còn chung sống với nhau nữa và tháng 10/2022 chị T làm đơn xin ly hôn với anh H, nhưng sau đó chị rút đơn lại và Toà đã đình chỉ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy là vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình, nhưng trong thời kỳ hôn nhân, nhưng trong thời kỳ hôn nhân giữa chị T và anh H phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không quan tâm gì đến nhau, chính vì vậy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, nên từ tháng 05/2022 đến nay chị T và anh H không còn sống chung với nhau nữa.
Trong quá trình Toà hoà giải xét xử vụ án này anh H cũng không đến Toà, không có nguyện vọng được đoàn tụ, điều này chứng tỏ anh H cũng không mong muốn xây dựng gia đình hạnh phúc, vì vậy có cơ sở xác định, hôn nhân giữa chị T và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu duy trì cuộc sống hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, áp dụng các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử cho chị T được ly hôn với anh H.
- Về con chung: Giữa chị T và anh H có 01 con chung tên Nguyễn Trung Q, sinh ngày 04/8/2006, hiện con đang ở với chị T. Nay ly hôn, chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Q, còn anh H không có ý kiến gì về việc nuôi con và nguyện vọng cháu Q muốn tiếp tục ở với mẹ. Vì vậy Hội đồng xét xử giao cháu Quân cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81, 82 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Chị T không yêu cầu anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nên không xét.
-Về tài sản chung nợ chung: Chị T xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung, nên không xét.
Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị T phải chịu án phí ly hôn, theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự quy định tại khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147, điểm b, khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
-Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
-Căn cứ Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phan Thị Tuyết T được ly hôn với anh Nguyễn Trung H.
2. Về quan hệ nuôi con chung: Giao con chung của chị T, anh H là Nguyễn Trung Q, sinh ngày 04/8/2006 cho chị Phan Thị Tuyết T trực tiếp nuôi dưỡng (hiện con đang ở với chị T) và anh H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3.Về án phí: Chị Phan Thị Tuyết T chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn để sung ngân sách nhà nước, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí, mà chị T đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0009128, ngày 08/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh B.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Phan Thị Tuyết T có mặt tại Toà được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 24/8/2023) và anh Nguyễn Trung H vắng mặt nên được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án, hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: -Các đương sự; -VKSND huyện Phù Mỹ; -CC THADS huyện Phù Mỹ; -UBND xã Mỹ Hiệp; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Tân |