vanban.org

Bản án 263/2019/HNGĐ-ST — Tranh chấp về cấp dưỡng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu Khởi Kiện của chị Trần Tố L yêu cầu anh Nguyễn Công K cấp dưỡng nuôi con cho cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 23/11/2016.

Buộc anh Nguyễn Công K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 23/11/2016 mỗi tháng 750.000 đồng/tháng (bảy trăm năm mươi ngàn đồng) cho đến Khi cháu B thành niên. Về án phí: Anh Nguyễn Công K phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "cấp dưỡng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu Khởi Kiện của chị Trần Tố L yêu cầu anh Nguyễn Công K cấp dưỡng nuôi con cho cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 23/11/2016.
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH AN GIANG
Bản án số: 263/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 01/11/2019.
V/v tranh chấp “Về
cấp dưỡng”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI,TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Vũ Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Tấn Khoa;

Bà Nguyễn Thị Ly.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Lắm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cxét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 706/2019/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2019 về việc tranh chấp “Về cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 525/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Tố L, sinh năm 1993; địa chỉ; ấp A, xã V, huyện C1, tỉnh Kiên Giang, (có mặt).

2. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Công K, sinh năm 1990; địa chỉ; ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang, (có ý kiến xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Tố L trình bày: Chị và anh K kết hôn với nhau vào năm 2015, vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 23/11/2016. Ngày 20/02/2009 anh K nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Cvà đã được Tòa án giải quyết cho ly hôn, anh K đồng ý để chị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 23/11/2016, anh không phải cấp dưỡng nuôi con. Nhưng nay do nhu cầu sinh hoạt và chi phí ăn uống hàng ngày càng cao nên chị yêu cầu anh K cấp dưỡng cho cháu B mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu B thành niên. Chị L cho rằng hiện nay anh K canh tác khoảng 30.000 m2 đất trồng xoài, phần đất này cha mẹ ruột cho anh K, hiện tại anh K đang đứng tên, mỗi mùa thu hoạch khoảng 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng, vì vậy anh K có đủ điều kiện để cấp dưỡng cho cháu B mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu B thành niên.

- Tại tờ tự khai ngày 13/9/2019 anh K trình bày: Anh đã nhận thông báo thụ lý vụ án và thông báo về phiên hòa giải nhưng anh bận công việc không đến được anh có ý kiến trình bày: Anh không đồng ý theo yêu cầu của chị L yêu cầu anh cấp dưỡng cho cháu B mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu B thành niên, vì chị L tự ý dẫn cháu đi chứ gia đình anh không có mâu thuẫn gì với chị L. Hiện tại anh canh tác khoảng 3.000m2 đất trồng xoài cho gia đình, không phải của riêng anh. Thu nhập mỗi mùa vụ 20.000.000 đồng (một vụ 06 tháng), ngoài khoản thu nhập trên gia đình anh không còn khoản thu nhập nào Kc, nếu chị L không nuôi được cháu B thì chị giao cho anh nuôi, không yêu cầu chị cấp dưỡng nuôi con, còn nếu như chị không đồng ý giao thì anh có tiền bao nhiêu anh cho cháu B. Hiện tại gia đình anh có 04 người, chỉ có một người chị có công việc thu nhập ổn định nhưng không biết mức thu nhập là bao nhiêu. Do anh bận công việc gia đình nên không thể đến Tòa án để tham gia các buổi hòa giải và xét xử. Cho anh xin vắng mặt, anh không thiếu nại gì về sau.

Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Công K đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải nhưng anh K vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cphát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật.

Ý kiến giải quyết vụ án:

Ngày 27/3/2018, Tòa án nhân dân huyện Cđã ra Bản án chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Công K đối với chị Trần Tố L; chị L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 23/11/2016, anh K không phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện, anh K có việc làm ổn định, thu nhập dựa vào việc canh tác đất trồng xoài. Nay, chị L yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cxem xét giải quyết buộc anh K cấp dưỡng nuôi cháu B là 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu B trưởng thành.

Phía anh Nguyễn Công K trình bày: Anh K không đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng do chị L tự ý đưa con đi, nếu chị L nuôi con không được thì anh K đồng ý nuôi con. Hiện, anh K đang canh tác 3.000m2 đất trồng xoài thu được số tiền mỗi mùa khoảng 20.000.000 đồng (mỗi mùa 6 tháng), chưa kể chi phí vật tư và dùng trong sinh hoạt gia đình.

Xét thấy, cháu Nguyễn Gia B - Sinh ngày 23/11/2016 là con chung của chị L và anh K, hiện cháu B vẫn chưa thành niên, theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân gia đình “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con” nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng của chị L đối với anh K. Về mức cấp dưỡng, do hai bên không thống nhất được nên căn cứ theo quy định pháp luật mức cấp dưỡng không quá ½ tháng lương cơ sở tương đương 750.000 đồng/tháng.

Từ những phân tích nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 82, 110, 116 của Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Trần Tố L đố với anh Nguyễn Công K.

- Anh Nguyễn Công K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Gia B - Sinh ngày 23/11/2016 mỗi tháng 750.000 đồng cho đến cháu thành niên và có khả năng lao động.

Tại phiên tòa, chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị L khởi kiện anh Nguyễn Công K có nơi cư trú tại ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang, Tòa án nhân dân huyện C thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, phù hợp theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Nguyễn Công K có ý Kiến xin vắng mặt tại phiên Tòa. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh K.

[2]. Về nội dung: Chị L yêu cầu anh K cấp dưỡng cháu B mỗi tháng 2.000.000 đồng/tháng cho đến Khi cháu B thành niên. Theo quy định pháp luật, Khi ly hôn, người Không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, mức đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con tối thiểu Không dưới 1/2 (một phần hai) mức lương cơ sở do Nhà nước quy định đối với một người con chưa thành niên. Tại bản án số 82/2019/HNGĐ ngày 21/5/2019 tuyên xử về con chung anh K đồng ý để chị L được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh Không phải cấp dưỡng nuôi con. Nay chị L Không có Khả năng nuôi cháu B nên chị yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến Khi cháu B thành niên. Tại phiên tòa chị L chỉ yêu cầu anh K cấp dưỡng cho cháu B mỗi tháng 1.500.000 đồng/tháng cho đến Khi cháu B thành niên. Trong quá trình làm việc Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ là biên bản xác minh ngày 13/9/2019 được chính quyền địa phương nơi anh K sinh sống cung cấp. Hiện tại anh là con trai út trong gia đình, gia đình anh canh tác 7.000m2 đất trồng xoài, thu nhập ổn định, bình quân mỗi mùa vụ thu nhập Khoảng từ 7.000.000 đồng trở lên (mỗi mùa vụ gồm 04 tháng). Vì lợi ích của cháu B, chị L yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng. Mặt Kc theo quy định pháp luật nếu người Không trực tiếp nuôi con thì có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo mức cấp dưỡng phù hợp với Khả năng thu nhập hàng tháng. Thực tế anh K thu nhập dựa trên diện tích trồng xoài của gia đình mỗi mùa vụ thu nhập 20.000.000 đồng (một vụ 06 tháng), ngoài ra Không còn ra Khoản thu nhập nào Kc. Với mức thu nhập trên Hội đồng xét xử nghĩ nên buộc anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho cháu B mỗi tháng 750.000 đồng/tháng cho đến Khi cháu B thành niên là có căn cứ phù hợp với Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L. Anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 750.000 đồng đến Khi con chung thành niên.

[3]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh K phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 82, 110, 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu Khởi Kiện của chị Trần Tố L yêu cầu anh Nguyễn Công K cấp dưỡng nuôi con cho cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 23/11/2016.

Buộc anh Nguyễn Công K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 23/11/2016 mỗi tháng 750.000 đồng/tháng (bảy trăm năm mươi ngàn đồng) cho đến Khi cháu B thành niên.

Về án phí: Anh Nguyễn Công K phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với Khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến Khi thi hành án xong, tất cả các Khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu Khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Đương sự có mặt tham gia phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày Kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc Không có mặt Khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn Kng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ