- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Lê Văn Quãng - Công ty TNHH P"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí l phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 262/2025/LĐ-ST Ngày: 06/6/2025 V/v: “Tranh chấp về hợp đồng lao động”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu - Nguyên Trƣởng Phòng Lao động thƣơng binh và Xã hội thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng;
2. Bà Nguyễn Thị Hoàng Oanh – Công tác tại Phòng Lao động thƣơng binh và Xã hội thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sao Mai - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Lý Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 90/2025/TLST-LĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025 về vi c: “Tranh chấp về hợp đồng lao động”, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 194/2025/QĐXXST-LĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025 giữa các đƣơng sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Văn Q, sinh năm 1990; thƣờng trú tại: Ấp A, xã C, huy n T, tỉnh An Giang, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Bị đơn: Công ty TNHH P; trụ sở: Khu phố H, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.
Ngƣời đại di n hợp pháp của nguyên đơn: Bà Phan Châu Thu H, sinh năm 1986; thƣờng trú: 7 Hồ V, khu phố A, phƣờng T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: Công ty TNHH P; Khu phố H, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng – là đại di n theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 27/3/2025), có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Văn D, sinh năm 1987; thƣờng trú: Ấp A, xã C, huy n T, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: 1 khu phố H, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; địa chỉ: Đƣờng N, phƣờng L, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Lê Văn Q trình bày:
Trƣớc đây ông Lê Văn Q trƣớc đây là công nhân Công ty TNHH A (V); địa chỉ: Số A đại lộ H, K, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, trong thời gian làm vi c tại đây thì ông Q có tham gia BHXH theo quy định, sổ BHXH số 7411120230 cấp ngày 23/9/2013, tên Lê Văn Q, sinh ngày 07/02/1990; số chứng minh nhân dân xxxxxxxxx, căn cƣớc công dân số 089090009351. Do có nhu cầu rút bảo hiểm xã hội một lần nên ông Q làm thủ tục tại Bảo hiểm xã hội thành phố T và đƣợc thông báo thời điểm từ tháng 7 năm 2010 đến tháng 6 năm 2011 ông Q có ký hợp đồng lao động làm vi c tại Công ty TNHH P và có tham gia bảo hiểm xã hội nên thời gian tham gia bảo hiểm xã hội của ông Q1 bị trùng.
Lý do bị trùng là năm 2010 ông Q có cho ông Lê Văn D (là anh trai của ông Q) mƣợn giấy Chứng minh nhân dân để làm hồ sơ xin vi c và nộp vào Công ty TNHH P, sau đó công ty có làm thủ tục đóng BHXH, toàn bộ hồ sơ lao động của ông Lê Văn D tại Công ty TNHH P đều lấy tên là Lê Văn Q, thực tế ngƣời làm vi c tại Công ty TNHH P là ông Lê Văn D, thời gian làm từ tháng 7 năm 2010 đến tháng 6 năm 2011, do thời gian đã lâu và ông D đã làm thất lạc Hợp đồng lao động với Công ty TNHH P nên ông Q không cung cấp đƣợc cho Tòa án.
Nay ông Lê Văn Q yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng giải quyết: Tuyên Hợp đồng lao động ký kết giữa ngƣời lao động có tên là Lê Văn Q (do ông Lê Văn D là ngƣời ký kết) với ngƣời sử dụng lao động là Công ty TNHH P trong khoảng thời gian làm từ tháng 7 năm 2010 đến tháng 6 năm 2011 là vô hi u.
Về án phí: Ông Lê Văn Q tự nguy n chịu toàn bộ án phí lao động sơ thẩm.
Do không có thời gian tham gia tố tụng nên ông Q có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
* Người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty TNHH P trình bày:
Công ty TNHH P có nhận bà ông Lê Văn Q vào làm vi c tại công ty. Hồ sơ xin vi c của ông Q đầy đủ theo quy định: Sơ yếu lí lịch, đơn xin vi c, giấy chứng minh nhân dân, giấy khám sức khỏe, hồ sơ xin vi c thể hi n tên của ông Lê Văn Q, đã ký hợp đồng lao động với Công ty và tham gia bảo hiểm xã hội đầy đủ theo quy định, tuy nhiên do đã lâu, hồ sơ lao động, hợp đồng lao động đối với ngƣời lao động này đã thất lạc nên tôi không thể cung cấp cho Tòa án.
Có sự vi c khởi ki n trên là do ông Lê Văn D đã không trung thực với công ty trong vi c giao kết hợp đồng lao động nên Công ty không thể biết đƣợc. Đến khi Công ty TNHH P nhận đƣợc Thông báo về vi c thụ lý vụ án và đơn khởi ki n thì công ty mới biết đƣợc sự vi c trên. Do không còn giữ hồ sơ lao động nên công ty thống nhất với thời gian, các thông tin về vi c tham gia bảo hiểm xã hội của ngƣời lao động Lê Văn Q do cơ quan Bảo hiểm xã hội cung cấp. Công ty thống nhất yêu cầu khởi ki n của bên nguyên đơn, công ty không có yêu cầu gì đối với hậu quả của hợp đồng vô hi u, Công ty không yêu cầu phản tố gì, đồng thời có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
* Tại đơn trình bày ý kiến, các lời khai trong quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn D trình bày:
Ông Lê Văn D là em ruột với ông Lê Văn Q. Ông D xác định có giao kết hợp đồng lao động và làm vi c tại Công ty TNHH P từ tháng 7 năm 2010 đến tháng 6 năm 2011 với tên Lê Văn Q, thời điểm này do ông D chƣa đủ 18 tuổi không đƣợc ký hợp đồng lao động nên đã mƣợn giấy Chứng minh nhân dân và các thông tin cá nhân của ông Lê Văn Q để nộp hồ sơ xin vi c vào Công ty TNHH P, sau đó công ty có tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định, đƣợc cấp sổ Bảo hiểm xã hội, toàn bộ hồ sơ lao động và tham gia bảo hiểm xã hội đều đứng tên ông Lê Văn Q. Ông D không cung cấp đƣợc hợp đồng lao động vì đã thất lạc. Ông D nhận thấy vi c ký kết hợp đồng lao động với Công ty nhƣ trên là sai quy định, vi phạm nguyên tắc trung thực, ảnh hƣởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lê Văn Q, do đó, đối với yêu cầu khởi ki n và toàn bộ lời trình bày của ông Lê Văn Q trong quá trình tố tụng ông D thống nhất, không có yêu cầu độc lập gì trong vụ án này, đồng thời có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Thời gian ông Lê Văn D làm vi c tại Công ty TNHH P thì đã đƣợc hƣởng BHXH 01 lần, do sổ bảo hiểm đứng tên ông Q nên ông Q là ngƣời đi làm thủ tục và nhận tiền và giao lại cho ông D, ông Q không tranh chấp hay yêu cầu gì về số tiền này.
* Tại Công văn số 174/CV-BHXH ngày 18/4/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố T xác định:
Qua kiểm tra dữ li u thông tin đối với ngƣời lao động tên Lê Văn Q, sinh năm 1990, số chứng minh nhân dân xxxxxxxxx, CCCD số xxxxxxxxxxxx có 02 mã số Bảo hiểm xã hội, bao gồm:
Mã số mã số Bảo hiểm xã hội 7408081313 tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghi p, Bảo hiểm tai nạn lao động – B nh nghề nghi p tại Công ty C từ tháng 04 năm 2008 đến tháng 6 năm 2010 và tại Công ty TNHH P từ tháng 07 năm 2010 đến tháng 6 năm 2011. Đối với mã số bảo hiểm này đƣợc Bảo hiểm xã hội tỉnh B xác nhận chốt sổ, cấp tờ rời sổ BHXH ngày 11/02/2017, đã hƣởng trợ cấp BHXH một lần và BHTN.
Mã số mã số Bảo hiểm xã hội 7411120230 tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghi p, Bảo hiểm tai nạn lao động – B nh nghề nghi p tại các Công ty TNHH A (V) từ tháng 04 năm 2011 đến tháng 01 năm 2020; tại Công ty TNHH J từ tháng 10 năm 2021 đến tháng 5 năm 2023. Đối với mã số bảo hiểm này ngƣời lao động đã đƣợc chốt sổ BHXH, chƣa hƣởng BHXH 01 lần, đã hƣởng BHTN.
Cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố T đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
* Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đƣa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa thực hi n đúng trình tự, thủ tục đối với vi c xét xử sơ thẩm vụ án. Các đƣơng sự chấp hành đúng pháp luật tố tụng.
+ Về nội dung: Căn cứ Điều 49, 50, 51 Bộ luật Lao động năm 2019; Điều 127; Điều 131 của Bộ luật dân sự; Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí l phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn về vi c tranh chấp hợp đồng lao động.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài li u có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan h tranh chấp: Nguyên đơn ông Lê Văn Q khởi ki n “Tuyên Hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động có tên là Lê Văn Q (do ông Lê Văn D là người ký kết) với người sử dụng lao động là Công ty TNHH P trong khoảng thời gian làm từ tháng 7 năm 2010 đến tháng 6 năm 2011 là vô hiệu”.
Hội đồng xét xử xác định quan h pháp luật là “Tranh chấp về hợp đồng lao động” đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Công ty TNHH P có địa chỉ trụ sở tại khu phố H, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án nguyên đơn, ngƣời đại di n hợp pháp bị đơn; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đƣơng sự.
Các bên không cung cấp đƣợc tài li u, chứng cứ là Hợp đồng lao động giữa Công ty TNHH P và ông Lê Văn Q. Tuy nhiên, nguyên đơn, ngƣời đại di n hợp pháp của bị đơn, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông D đều thống nhất có vi c giao kết hợp đồng. Sự thừa nhận của các đƣơng sự là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào trình bày của các đƣơng sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Ông Lê Văn D dùng thông tin cá nhân của ông Lê Văn Q để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH P từ tháng 7 năm 2010 đến tháng 6 năm 2011, đƣợc công ty tham gia BHXH thể hi n đầy đủ tại sổ bảo hiểm xã hội số: 7408081313. Tuy nhiên, thực tế ông Lê Văn Q cũng giao kết hợp đồng lao động tại Công ty TNHH A (V) từ tháng 04 năm 2011 đến tháng 01 năm 2020; tại Công ty TNHH J từ tháng 10 năm 2021 đến tháng 5 năm 2023 và có tham gia bảo hiểm xã hội với mã số bảo hiểm xã hội 7411120230.
Qua tài li u chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thông tin cung cấp từ cơ quan bảo hiểm xã hội thành phố T có cơ sở xác định: Vi c ông Lê Văn D sử dụng thông tin cá nhân và chứng minh nhân dân của ông Lê Văn Q để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH P là không đúng chủ thể xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc tự nguy n, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan h lao động đƣợc quy định tại Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 (Điều 15 của Bộ luật Lao động năm 2019), vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Bộ luật lao động 2012 (khoản 2 Điều 16 Bộ luật Lao động 2019). Do đó, theo quy định tại Điều 50 của Bộ luật lao động 2012 (điểm b khoản 1 Điều 49 Bộ luật Lao động 2019) đây là trƣờng hợp hợp đồng lao động vô hi u toàn bộ. Do đó, nguyên đơn ông Lê Văn Q yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên hợp đồng lao động đƣợc ký kết giữa ngƣời lao động tên Lê Văn Q (do ông Lê Văn D là ngƣời ký) và Công ty TNHH P thời gian từ tháng 7 năm 2010 đến tháng 6 năm 2011 vô hi u toàn bộ là có cơ sở chấp nhận.
Các đƣơng sự không tranh chấp và không yêu cầu gì khác trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét. [6] Quan điểm của vị đại di n Vi n kiểm sát có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn tự nguy n chịu án phí lao động sơ thẩm nên Hội đồng xét xử ghi nhận, đƣợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn Công ty TNHH P không phải chịu án phí lao động sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Các Điều 122, 132, 137 Bộ luật dân sự năm 2005 (Các Điều 117, 122, 127; 131 của Bộ luật dân sự 2015);
- Các Điều 17, 19, 50, 51 và Điều 52 của Bộ luật Lao động năm 2012 (nay là các Điều 15, 16, 49, 50 và Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019).
- Điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí l phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi ki n của ông Lê Văn Q về vi c Tranh chấp hợp đồng lao động với bị đơn Công ty TNHH P.
2. Tuyên bố Hợp đồng lao động giao kết giữa ông Lê Văn Q và Công ty TNHH P trong thời gian từ tháng 7 năm 2010 đến tháng 6 năm 2011 vô hi u.
3. Về hậu quả của Hợp đồng lao động vô hi u: Cơ quan Bảo hiểm xã hội có thẩm quyền thực hi n các chế độ bảo hiểm xã hội đối với ông Lê Văn Q theo quy định pháp luật.
4. Về án phí: Nguyên đơn ông Lê Văn Q tự nguy n chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí lao động sơ thẩm, đƣợc trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000817 ngày 25/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Bị đơn không phải chịu án phí lao động sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc kể từ ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - CCTHADS thành phố Thuận An; - Các đƣơng sự; - Lƣu: Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Ánh |