- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Duy Th phạm tội “Giết người” - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Duy Th;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 262/2025/HS-PT Ngày 08/9/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tự Học;
Các Thẩm phán: Ông Phạm Việt Hà;
Ông Nguyễn Mạnh Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Ly, Thẩm tra viên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hưng, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 08 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLPT-HS ngày 08 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo Phạm Duy Th phạm tội “Giết người”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 189/2025/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
* Bị cáo có kháng cáo:
Phạm Duy Th, sinh ngày 09/8/1973; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT và nơi ở: số nhà 17, ngõ 141, phố QNh, phường YH, thành phố Hà Nội (trước đây là số nhà 17, ngõ 141, phố QNh, phường NCh, quận TX, thành phố Hà Nội); quốc tịch Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 11/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Phạm Duy Th2 (đã chết); con bà Trần Thị L; có vợ là Nguyễn Lê D; có 01 con sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 03/12/2013, bị Công an quận TX, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích (đã nộp phạt ngày 11/12/2013); bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/4/2024, bị tạm giam từ ngày 23/4/2024; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hà Huy S - Công ty luật TNHH HS, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; có mặt.
* Người đại diện của người bị hại không kháng cáo, được triệu tập: Bà Lương Thị Phương L2, sinh năm 1965; trú tại: Căn hộ 3025, RB5, khu đô thị RC, số 72 NTr, phường KhĐ, thành phố Hà Nội (trước đât là Căn hộ 3025, RB5, khu đô thị RC, số 72 NTr, phường ThĐ, quận TX, thành phố Hà Nội); vắng mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 19/4/2024, Phạm Duy Th cùng chị Nguyễn Lê D (là vợ của Th) và anh Vũ Anh D, anh Lê Xuân T rủ nhau đi ăn ở quán tại ngõ 1, phố Bùi XTr, phường KhĐ, quận TX, thành phố Hà Nội. Đến khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, sau khi ăn uống xong, nhóm của Th tiếp tục đi về quán cà phê hát cho nhau nghe TM ở số nhà 40, phố CL, phường ThĐ, quận TX, thành phố Hà Nội để vừa uống nước, vừa hát Karaoke. Khi nhóm của Th đang ngồi tại quán thì khoảng 21 giờ cùng ngày, có Nguyễn Cao Th3 (cùng nhóm bạn là Nguyễn Trung Ng, Nguyễn Thuận H, Trương Công Ph, Kim Ngọc Ch, Nguyễn Văn Q và Lê Đức H2) cũng đi vào quán TM uống nước và hát ở bàn đối diện bàn của nhóm Th. Khi nhóm của Th3 vào quán, Th thấy nhóm Th3 đông người nên khó chịu, chỉ tay vào Th3 và chửi: “Đ. mẹ mày". Bị chửi, Th3 nói với Th: “Tôi làm gì anh mà anh lại chửi tôi”. Thấy Th3 nói vậy, Th liền lao về phía Th3 dùng tay đấm vào người Th3. Bị đánh, Th3 cũng đứng dậy đỡ đòn đánh của Th thì được mọi người can ngăn, kéo Th3 và Th ra. Do cả hai còn bực tức nên tiếp tục chửi nhau trong quán hát khoảng 05 phút nhưng được mọi người can ngăn nên không xảy ra xô xát đánh nhau. Lúc này, Nguyễn Trung Ng thấy Th vô cớ chửi nhóm mình nên bực tức đi tới cửa quán hát, vừa chửi vừa vung tay đánh hai cái trúng người Th, thì được mọi người can ngăn, kéo Ng lại. Ngay sau đó, Ng ra lấy xe máy đi về nhà trước. Th được mọi người can ngăn và đẩy ra ngoài quán. Th đứng trước cửa quán, tiếp tục chửi Th3 và nói: “Mày mà ra đây, tao đánh chết mẹ mày”. Th3 thấy Th có biểu hiện say rượu nên không chấp lời nói của Th và đi ra ngoài để về nhà. Khi Th3 ra đến trước cửa quán hát, Th lao về phía Th3 định đánh thì được mọi người kéo lại. Sau đó, do thấy Th vẫn tiếp tục chửi mình nên Th3 lao về phía Th thì Th bỏ chạy về phía Ao Đình trên phố QNh, phường NCh (cách quán hát khoảng 200m). Th3 đuổi theo Th khoảng 10m thì dừng lại, Th vừa chạy vừa quay đầu lại nói: “Mày cứ đợi đấy, tao đánh chết mày”. Th3 quay lại quán hát TM để lấy xe máy đi về nhưng không tìm thấy chìa khóa.
Sau khi mọi người can ngăn, Th được Lê Xuân T điều khiển xe máy chở về nhà ở số 17, ngõ 141, phố QNh, phường NCh, quận TX. Về đến nhà, Th vẫn còn bực tức về việc mâu thuẫn với nhóm của Th3, Th đã lấy 02 con dao (gồm 01 con dao mũi nhọn, chuôi bằng gỗ dài 27cm, có vỏ bọc bằng gỗ và 01 con dao bấm, chuôi bằng kim loại dài khoảng 25cm) rồi đi bộ quay lại quán hát TM tại số nhà 40, phố CL, phường NCh để tìm đánh Th3. Khi Th quay lại quán TM thì thấy Th3 vẫn đang tìm chìa khóa xe máy ở khu vực xung quanh quán hát, nên vừa Th vừa đi vừa chửi Th3. Thấy vậy, Th3 lấy 01 cái muôi múc canh bằng nhôm ở cửa hàng tạp hóa cạnh đường rồi đi về phía Th để đánh nhau, thì có người ngăn cản. Th3 quay lại chỗ để xe máy thì thấy chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa nên Th3 lấy xe đi về, thì nghe thấy hô to: “Đâm chết người rồi”. Do sợ bị đánh nên Th3 nhặt một viên gạch ở dưới đất cầm lên để tự vệ nhưng khi không thấy ai đánh, nên vứt viên gạch đi và nổ máy đi về.
Do trước đó, khoảng 21 giờ 50 phút cùng ngày, ông Lương Sơn B là người quen của Th nói chuyện điện thoại với anh Vũ Anh D thì được anh D cho biết Th đang xảy ra mâu thuẫn, đánh nhau tại khu vực quán cà phê TM. Ông B đã điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter màu xám, biển kiểm soát 29P7-1926 đi đến khu vực phố CL để can ngăn Th. Khi đến nơi, ông B thấy Th đang đứng chửi bới ở trước số nhà 153, phố CL nên dựng xe và đi bộ đến chỗ Th đứng để can ngăn. Khi ông B dùng tay ôm vòng sau lưng Th để can ngăn, Th đang say rượu nên tưởng ông B là người trong nhóm của Th3, Th đã dùng tay phải cầm con dao (có chuôi gỗ dài 27cm, lưỡi nhọn) đâm liên tiếp hai nhát vào vùng mạn sườn trái và ngực bên trái của ông B, làm ông B ngã xuống đường và bị tử vong tại chỗ. Tổ Công tác Công an phường ThĐ đã đến hiện trường khống chế, đưa Th về trụ sở để làm rõ.
Sau khi xảy ra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận TX đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng và trưng cầu giám định nguyên nhân chết của ông Lương Sơn B. Kết quả như sau:
Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 23 giờ ngày 19/4/2024 thể hiện: "... Hiện trường nơi xảy ra sự việc tại đường đi phố CL - đoạn trước nhà số 153, phố CL, phường ThĐ, quận TX, thành phố Hà Nội. Đường đi phố CL đoạn qua trước nhà số 153 trải nhựa, rộng trung bình 4,6m, chạy theo hướng Đông Tây, phía Đông đi về phía đường NTr, phía Tây đi về phía phố QNh, dãy nhà phía Bắc đánh số chẵn, dãy nhà phía Nam đánh số lẻ. Trên mặt đường cách nhà số 153 là 65cm, cách ngõ 155 là 4,6m, cách nhà số 40 đoạn 12m là vị trí nạn nhân Lương Sơn B chết trong tư thế nằm ngửa, đầu quay hướng Tây, tay trái co đặt trên bụng, tay phải giang sang ngang, hai chân co. Nạn nhân mặc áo phông cộc tay màu trắng, quần dài, chân đi giày. Trong túi quần trước bên trái có 01 điện thoại hiệu Vivo trong tình trạng hoạt động. Túi quần bên phải có 01 ví da màu nâu chứa thẻ cá nhân và tiền mặt. Trên cơ thể và quần áo có dính nhiều chất màu nâu đỏ. Bên dưới nạn nhân có đám chất màu nâu đỏ dạng đọng, bắn, nhỏ giọt trên diện (2,4x2,1)m. Cách đầu nạn nhân 15cm, cách tường nhà số 153 đoạn 1,17m có 01 mũ bảo hiểm lưỡi chai màu đen”.
Tại Kết luận giám định số 3715/KLGĐ-KTHS ngày 27/5/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội về nguyên nhân chết của nạn nhân Lương Sơn B, kết luận: “...
- Vùng ngực trái và sườn trái có 01 vết thương sâu thấu trong. Vùng lưng phải có 01 vết thương sâu vào cơ tương ứng.
- Vết thương vùng ngực trái và sườn trái qua khe liên sườn 4,5 bên trái, cắt qua thùy trên phổi trái, cắt vào trong tâm nhĩ trái của tim. Gan, lách, thận không tổn thương thủng, rách, vỡ. Dạ dày có thức ăn.
- Tổ chức dưới da đầu bình thường. Xương hộp sọ không bị vỡ. Các mạch máu não sung huyết, nhu mô não không chảy máu.
- Nguyên nhân chết: Mất máu cấp do vết thương vùng ngực trái và sườn trái gây thủng tim, phổi. Các vết thương trên cơ thể nạn nhân do vật sắc nhọn tác động dạng đâm”.
Tại Kết luận giám định số 3540/KGGĐ ngày 22/5/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “… Dấu vết màu nâu đỏ nghi máu ở bên dưới nạn nhân là máu người, có kiểu gen trùng với kiểu gen của anh Lương Sơn B (có lý lịch nêu trên). Dấu vết màu nâu đỏ nghi máu dạng nhỏ giọt rải rác trên đường là máu người, do dấu vết ít, chất lượng dấu vết kém nên không phân tích được. Trên con dao dài 27cm, lưỡi dao dài 15cm, chuôi dao làm bằng gỗ dài 12cm, vỏ bọc lưỡi dao bằng gỗ dài 18cm, có dính máu người, có kiểu gen trùng với kiểu gen của anh Lương Sơn B. Trên con dao dài 25cm, lưỡi dao nhọn bằng kim loại dài 12cm, chuôi dao bằng kim loại ốp gỗ, dài 13cm, lưỡi dao có thể gập được gửi giám định không phân tích được kiểu gen.”
Tại Cáo trạng số 682/CT-VKSHN-P2 ngày 20/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố Phạm Duy Th về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n, khoản 1, Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 189/2025/HS-ST ngày 21/3/2025, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Phạm Duy Th phạm tội “Giết người”; Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 40 Bộ luật hình sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng hình sự; Xử phạt bị cáo Phạm Duy Th tử hình. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự; xử lý vật chứng; án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 25/3/2025, bị cáo Phạm Duy Th kháng cáo xin giảm hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị cáo Phạm Duy Th vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm quy kết, bị cáo trình bày do lúc đó bị cáo say rượu nên không kiềm chế được bản thân, bị cáo không có ý định đâm anh Bắc, bị cáo rất hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để giảm hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa chị Nguyễn Lê D (vợ bị cáo) xuất trình tài liệu thể hiện gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường 500 triệu đồng cho gia đình bị hại và được gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, có xác nhận hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, bố bị cáo trong quá trình công tác được UBND quận TX tặng giấy khen trong phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc, được Bộ Công an tặng kỷ niệm chương bảo vệ an ninh tổ quốc, biên lai nộp án phí dân sự sơ thẩm và án phí hình sự sơ thẩm. Chị Diệp đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo Th.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nguyên nhân và điều kiện phạm tội của bị cáo, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 500 triệu đồng và được đại diện bị hại có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo, bố bị cáo trong quá trình công tác được tặng giấy khen, kỷ niệm chương bảo vệ an ninh tổ quốc, bị cáo đã nộp án phí dân sự và hình sự sơ thẩm, hoàn cảnh gia đình khó khăn, có mẹ già yếu, con còn nhỏ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, xử phạt bị cáo mức án tù chung thân là phù hợp.
Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo có quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phạm Duy Th về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo mức án tử hình là có phần nghiêm khắc. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình các tình tiết giảm nhẹ mới: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường thêm cho gia đình bị hại 500 triệu đồng, đã nộp án phí dân sự, sơ thẩm, hoàn cảnh gia đình khó khăn; do vậy, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt, xử phạt bị cáo mức án tù chung thân.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo Phạm Duy Th rất hối hận về việc làm của mình, bị cáo mong Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để giảm hình phạt, cho bị cáo có cơ hội được trở về với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, lời khai của bị cáo, ý kiến của luật sư bào chữa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Duy Th trong hạn luật định, được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
. Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Duy Th khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm quy kết, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phiên tòa sơ thẩm, lời khai của người liên quan đến vụ án, người làm chứng, kết luận giám định pháp y, các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19/4/2024, sau khi uống rượu xong, Phạm Duy Th cùng vợ là chị Nguyễn Lê D, anh Vũ Anh D và anh Lê Xuân T đến quán cà phê TM ở số nhà 40, phố CL, phường ThĐ, quận TX, thành phố Hà Nội để vừa uống nước vừa hát. Khoảng 21 giờ cùng ngày, khi nhóm của Th đang ở quán thì có Nguyễn Cao Th3 cùng Nguyễn Trung Ng, Nguyễn Thuận H, Trương Công Ph, Kim Ngọc Ch, Nguyễn Văn Q và Lê Đức H2 cũng đi vào quán TM uông nước và hát ở bàn đối diện. Do thấy khó chịu vì nhóm của Th3 đông người nên Th chửi nhóm Th3, dẫn đến xảy ra mẫu thuẫn cãi chửi, xô xát đánh nhau giữa Th, Th3 và Ng thì được mọi người can ngăn. Sau đó, Th về nhà lấy hai con dao ở trong bếp rồi quay lại quán hát TM tìm đánh Th3. Do có người can ngăn nên Th3 lấy xe máy đi về.
Cùng thời điểm này, ông Lương Sơn B (là người quen của Th) biết Th đang xảy ra mâu thuẫn, đánh nhau tại quán TM nên đã điều khiển xe máy đến phố CL để can ngăn. Khoảng 22 giờ cùng ngày 19/4/2024, khi ông B đến trước cửa số nhà 153 phố CL thì thấy Th đang đứng chửi. Ông B dựng xe máy rồi đi đến, dùng tay ôm vòng sau lưng Th để can ngăn. Do say rượu, Th tưởng ông B là người trong nhóm Th3 nên đã dùng con đao chuôi gỗ dài 27cm, lưỡi nhọn đâm hai nhát vào vùng mạn sườn trái và ngực bên trái của ông B khiến ông B tử vong tại chỗ do mất máu cấp.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình có tính chất nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Do có hành vi nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội truy tố, xét xử bị cáo Phạm Duy Th về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Phạm Duy Th, Hội đồng xét xử thấy:
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Phạm Duy Th thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo tự nguyện chấp nhận trả toàn bộ số tiền bồi thường thiệt hại cho đại diện gia đình bị hại số tiền 319.270.000 đồng cho gia đình bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét hoàn cảnh phạm tội, sự việc đáng tiếc bắt nguồn từ hành vi của bị cáo (khi nhóm của Nguyễn Cao Th3 đi vào quán cà phê hát cho nhau nghe, bị cáo là người khởi xướng trước: thấy nhóm Th3 đông nên khó chịu, chỉ tay vào Th3 và chửi). Bị cáo có sử dụng rượu, bia nhưng do bị cáo tự đặt mình vào tình trạng say rượu, bia, do đó vẫn phải chịu toàn bộ trách nhiệm hình sự; việc bị cáo trở về nhà lấy hai con dao quay lại quán hát TM tại số nhà 40, phố CL, phường NCh, quận TX, thành phố Hà Nội để tìm đánh Th3 thể hiện sự quyết liệt trong việc thực hiện hành vi; bị hại là ông Lương Sơn B không có lỗi gì; bị cáo khai do bị cáo nhầm tưởng ông Lương Sơn B là người trong nhóm Nguyễn Cao Th3 nhưng rõ ràng, bị cáo đang mâu thuẫn với Nguyễn Cao Th3, đứng ở vị trí có thể quan sát Nguyễn Cao Th3 nhưng lại sẵn sàng đâm vào người không có mâu thuẫn với mình thể hiện tính chất côn đồ; bị cáo nhận thức được và buộc phải nhận thức được việc dùng hung khí nguy hiểm đâm hai nhát vào vùng mạn sườn trái và ngực bên trái là nơi hiểm yếu trên cơ thể con người sẽ dẫn đến hậu quả nạn nhân tử vong.
Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Duy Th đặc biệt nghiêm trọng. Bị cáo đã dùng hung khí, hung hãn manh động trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, thể hiện rõ bị cáo coi thường pháp luật, gây nên nỗi đau thương mất mát, oan khuất, không thể bù đắp cho gia đình bị hại, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, gây hoang mang, lo lắng trong quân chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thương tích. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo mức án tử hình là phù hợp. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xuất trình thêm các tình tiết giảm nhẹ mới: đã tự nguyện bồi thường số tiền 500 triệu đồng cho gia đình bị hại và được đại diện bị hại có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo, bị cáo đã nộp 15.963.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, con nhỏ, bố bị cáo trong quá trình công tác được UBND quận TX tặng giấy khen trong phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc, được Bộ Công an tặng kỷ niệm chương bảo vệ an ninh tổ quốc, hiện nay bố bị cáo đã chết, mẹ bị cáo già yếu; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng thêm cho bị cáo. Xét nguyên nhân điều kiện phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo không cố ý giết ông B mà do khi ông B ôm từ sau lưng bị cáo để căn ngăn, bị cáo đã nhầm tưởng ông B là người của nhóm Nguyễn Cao Th3 nên bị cáo đã dùng dao đâm 2 nhát, gây ra cái chết cho ông B; Hội đồng xét xử thấy thiết cần áp dụng chính sách khoan hồng nhân đạo của pháp luật, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm hình phạt, xử phạt bị cáo mức án tù không thời hạn cũng đủ tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Quan điểm của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại phiên tòa và ý kiến của luật sư bào chữa cho bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Phạm Duy Th không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Duy Th;
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 189/2025/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về phần hình phạt đối với bị cáo Phạm Duy Th, cụ thể như sau:
Tuyên bố bị cáo Phạm Duy Th phạm tội “Giết người”;
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 39 Bộ luật hình sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng hình sự; Xử phạt bị cáo Phạm Duy Th tù Chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2024.
2. Về án phí: Bị cáo Phạm Duy Th không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
3. Xác nhận bị cáo Phạm Duy Th đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 15.963.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm tại Biên lai số 0001631 ngày 19/8/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ 1 - TAND tối cao; - VCT&KSXXPT tại Hà Nội; - TAND Tp Hà Nội; - VKSND Tp Hà Nội; - Cục THADS Tp Hà Nội; - Công an Tp Hà Nội; - TTG số 2 - Công an Tp Hà Nội; - Bị cáo (qua TTG số 2- CA TP Hà Nội) - Lưu HS; HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Tự Học |