vanban.org

Bản án 262/2025/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/06/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/06/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. TAND Tối cao; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Nguyễn Thanh H - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:262/2025/HS-PT
Ngày: 27/6/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên.

Các Thẩm phán:

1. Ông Phan Thanh Nguyễn

2. Bà Lê Thị Thương Huyền

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đăng Khương - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 200/2025/TLPT-HS ngày 26/5/2025 đối với bị cáo Lê Nguyễn Thanh H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2025/HS-ST ngày 17/4/2025 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Lê Nguyễn Thanh H; sinh ngày: 29/5/1993 tại Đ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 4, Ấp 9, xã H, huyện T, tỉnh Đ; nơi ở hiện tại: 1 Chung cư C8, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn D và bà: Nguyễn Thị Thu T; vợ, con: chưa có; tiền sự: không.

Tiền án: 01 tiền án, ngày 27/01/2022, bị Tòa án nhân dân quận T xử phạt 1 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 12/2022/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/3/2023, chưa xóa án tích

Nhân thân: Ngày 19/3/2010, bị Tòa án nhân dân quận T xử phạt 3 năm 6 tháng tù về tội “Cướp tài sản” theo bản án số 50/2009/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/9/2011, đã xóa án tích; Ngày 11/10/2018, bị Tòa án nhân dân quận T xử phạt 1 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo bản án số 91/2018/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/7/2019, đã xóa án tích; Các biện pháp xử lý hành chính: Ngày 29/6/2018, Tòa án nhân dân quận T áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 21/7/2019; Ngày 25/5/2020, Tòa án nhân dân quận T áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 31/8/2021. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/9/2024 (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 42 phút ngày 15/9/2024, Lê Nguyễn Thanh H đi bộ một mình trên khu vực đường Nguyễn Thái Bình, Phường 12, quận T thì thấy anh Dương Hiền D là bảo vệ giữ xe của quán cà phê Đ, địa chỉ số 41 Nguyễn Thái B, Phường A, quận T, đang trông coi xe máy tại trước quán và đang cầm sử dụng 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, Lê Nguyễn Thanh H nảy sinh ý định cướp giật điện thoại này để bán lấy tiền tiêu xài. Hđi bộ đến gần chỗ anh D, giả vờ hỏi mấy giờ rồi bất ngờ dùng tay phải cướp giật chiếc điện thoại của anh D. Anh D giằng co giữ H lại nhưng không được. H cầm điện thoại của anh D trên tay, bỏ chạy bộ ra hướng đường Trường Chinh, bị anh D đuổi theo truy hô cướp. Đến trước địa chỉ số 14 T, Phường A, quận T, H bị người đi đường bắt quả tang cùng tang vật. Tại Cơ quan điều tra H khai nhận, tường trình hành vi cướp giật tài sản như nêu trên. Kết luận định giá tài sản số 98/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận T, điện thoại trên có giá trị 1.323.000 đồng. Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với các nhân chứng tại hiện trường và những người có liên quan xác nhận nội dung vụ việc “Cướp giật tài sản”, phù hợp với lời khai của người bị hại và diễn biến vụ án. Vật chứng thu giữ

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12, có ốp lưng bằng nhựa, đã được thu hồi và trả cho người bị hại.

- 01 (một) áo sơ mi màu đen;

- 01 (một) quần vải jean màu xanh.

- 02 USB ghi nhận hình ảnh hiện trường cướp giật và địa điểm bắt giữ bị can. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2025/HS-ST ngày 17/4/2025 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định: Tuyên bố: Bị cáo Lê Nguyễn Thanh H phạm tội “Cướp giật tài sản”. + Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Thanh H 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/09/2024.

Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Ngày 18/4/2025, bị cáo Lê Nguyễn Thanh H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:

Bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đưa ra ý kiến phát biểu:

Sau khi xem xét tất cả lời khai, tình tiết trong hồ sơ vụ án, nhận thấy bản án sơ thẩm đã tuyên bị cáo Lê Nguyễn Thanh H phạm tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh. Xét thấy mức án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận.

Bị cáo Lê Nguyễn Thanh H nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận T, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân quận T, Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo đã có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 10 giờ 42 phút ngày 15/9/2024, Lê Nguyễn Thanh H đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở của anh Dương Hiền D mà nhanh chóng công khai cướp giật tài sản ngay trên đường phố sau đó bỏ chạy bộ ra hướng đường T, bị anh D đuổi theo truy hô cướp. Đến trước địa chỉ số 148 T, Phường A, quận T, H bị người đi đường bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi của bị cáo Lê Nguyễn Thanh H đã phạm vào tội: “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội danh, điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội. [3] Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. [4] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới để xem xét. Bị cáo có nhân thân xấu, từng nhiều lần bị xét xử về hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng không lấy đó làm bài học để sửa đổi mà tiếp tục phạm tội, bị cáo có một tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với tình chất, mức độ hành vi và nhân thân của bị cáo nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm. Do không chấp nhận kháng cáo nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các vấn đề khác không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; 1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Nguyễn Thanh H; Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 41/2025/HS-ST ngày 17/4/2025 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Thanh H 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/09/2024. 3. Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và căn cứ Điều 22 và 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Bị cáo Lê Nguyễn Thanh H phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ