vanban.org

Bản án 262/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 25/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Bùi Châu T phạm tội “Cƣớp giật tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Châu T 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27 tháng 3 năm 2023. Về trách nhiệm dân sự: Không Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bui Chau T - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Bùi Châu T phạm tội “Cƣớp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 262/2023/HS-ST
Ngày: 25-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thị Thu Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thu Yến

Ông Huỳnh Hoàng Thuận

- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 260/2023/HSST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 261/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Bùi Châu T, sinh năm: 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cƣ trú: 1127/20/1/4, tỉnh lộ A, khu phốB, phƣờng B, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn S, sinh năm 1958 và bà Hồ Thị L, sinh năm 1957; bị cáo có 01 con sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Không

Ngày 30/9/2009, bị Tòa án nhân dân huyện (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 04 năm tù về tội Cƣớp giật tài sản theo Bản án số 327/2009/HSST. Chấp hành án tại Trại giam Tống Lê Chân - Tổng cục VIII - Bộ Công an đến ngày 30/8/2011 chấp hành xong.

Ngày 17/8/2016, bị Tòa án nhân dân Quận (nay là thành phố) Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 499/QĐ.

Bị bắt, tạm giam ngày 27/3/2023 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng khác:

- Bị hại: Dƣơng Thị Ánh T, sinh năm 1979; địa chỉ: Ấp K, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng, vắng mặt.

Ngƣời làm chứng:

Thạch Phi L, sinh năm 1982, vắng mặt;

Trần Hải L, sinh năm 2004, vắng mặt;

Nguyễn Hồng S, sinh năm 1998, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 27/3/2023, Bùi Châu T điều khiển xe mô tô biển số 70E1 - 252.51 chở theo bạn tên “V” (không rõ nhân thân, lai lịch) đi từ đƣờng tỉnh lộ 43 đến đƣờng Bình Hòa 24 thuộc khu phố Đồng An 2, phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng để mua đồ ăn. Khi cả hai đi đến trƣớc địa chỉ: 13E/14 đƣờng Bình Hòa 24, khu phố Đồng An 2, phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng thì T và V nhìn thấy bà Dƣơng Thị Ánh T, sinh năm 1979, hộ khẩu thƣờng trú: ấp K, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng đang đi bộ sát lề đƣờng bên chiều đƣờng ngƣợc lại và có đeo sợi dây chuyền vàng trên cổ nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt và rủ V cùng tham gia thì V đồng ý. Thực hiện ý định, T điều khiển xe mô tô chở V đi tới phía trƣớc khoảng 30m rồi vòng lại và dừng sát lề đƣờng để quan sát. Khi bà T đi bộ đến gần thì T điều khiển xe mô tô chạy tới áp sát bà T để V ngồi phía sau giật sợi dây chuyền trên cổ của bà T làm dây chuyền bị đứt. Lúc này, bà T dùng tay giữ lại đƣợc sợi dây chuyền, đồng thời tri hô “cƣớp, cƣớp” nên T điều khiển xe mô tô bỏ chạy đƣợc khoảng 05 mét thì bị ngƣời dân xung quanh bắt giữ và trình báo đến Công an phƣờng Bình Hòa tiếp nhận, còn V chạy bộ tẩu thoát khỏi hiện trƣờng.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô Yamaha exciter, màu xanh-đen biển số 70E1 - 252.51; 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, khối lƣợng: 7,9709 gam và 01 (một) mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng, khối lƣợng: 2,0888 gam.

Biên bản định giá tài sản và Kết luận định giá tài sản ngày 05/4/2023 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố Thuận An kết luận: 01 (một) dây chuyền bằng vàng 18k, trọng lƣợng 2 chỉ có trị giá: 7.800.000 đồng và 01 (một) mặt dây chuyền bằng vàng 18k, trọng lƣợng 5 phân có trị giá: 1.950.000 đồng. Tổng trị giá: 9.750.000 đồng (chín triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng).

Kết luận giám định số 3095/KL-KTHS ngày 11/5/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ Công an kết luận:

01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, khối lƣợng: 7,9709 gam (ký hiệu M1) đƣợc niêm phong, gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là Vàng (Au). Hàm lƣợng Vàng: 61,19%.

01 (một) mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng, khối lƣợng: 2,0888 gam (ký hiệu M2) đƣợc niêm phong, gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là Vàng (Au). Hàm lƣợng Vàng: 62,18%.

Tại bản Cáo trạng số 264/CT-VKS -TA ngày 05 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Bùi Châu T về tội “Cƣớp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nh trách nhiệm Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt đối với bị cáo Bùi Châu T từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù đến 04 (bốn) năm tù.

Đối với đối tƣợng tên “V” cùng thực hiện hành vi phạm tội với Bùi Châu T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã tiến hành xác minh nhƣng chƣa xác định đƣợc lai lịch, địa chỉ. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với sợi dây chuyền và mặt dây chuyền vàng nêu trên, quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu của bà Dƣơng Thị Ánh T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An trả lại cho bà T là có căn cứ. Bà T đã nhận lại đƣợc tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô xe mô tô Yamaha exciter, màu vàng-đen biển số 70E1 - 252.51 thu giữ trong vụ án. Quá trình điều tra xác định Bùi Châu T là chủ sở hữu hợp pháp, tuy nhiên T đã sử dụng xe làm phƣơng tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, sung công quỹ Nhà nƣớc.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải và xin đƣợc giảm nh hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại biên bản tiếp nhận ngƣời bị bắt trong trƣờng hợp phạm tội quả tang ngày 27/3/2023 (BL 01), bản tự khai ngày 28/3/2023 (BL 87,88) đối với Bùi Châu T, biên bản lấy lời khai ngày 28/3/2023, ngày 27/3/2023, biên bản ghi lời khai ngày 04/4/2023 (BL 69-97) và biên bản hỏi cung ngày 06/4/2023 (BL 98-100). Bị cáo Bùi Châu T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo trƣớc Tòa. Lời nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của ngƣời bị hại. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 27/3/2023 tại đoạn đƣờng Bình Hòa 24, khu phố Đồng An 2, phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Bùi Châu T cùng đối tƣợng tên V (chƣa xác định đƣợc lai lịch, địa chỉ) có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 70E1 - 252.51 áp sát, cƣớp giật 01 (một) dây chuyền bằng vàng có khối lƣợng: 7,9709 gam và 01 (một) mặt dây chuyền bằng vàng có khối lƣợng: 2,0888 gam của bà Dƣơng Thị Ánh T. Tổng trị giá tài sản bị cáo cƣớp giật là: 9.750.000 đồng (chín triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng). Do đó, cáo trạng truy tố bị cáo Bùi Châu T phạm tội cƣớp giật tài sản là đúng ngƣời, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của ngƣời khác một cách trái pháp luật, gây mất an ninh trật tự xã hội tại địa phƣơng. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức đƣợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhƣng bị cáo vẫn cố ý thực hiện và mong muốn chiếm đoạt đƣợc tài sản của ngƣời bị hại. Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị Tòa án tuyên xử về tội cƣớp giật tài sản nhƣng không lấy đó làm bài học sửa chữa cho bản thân, nay lại tiếp tục phạm tội. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án phù hợp với hành vi mà bị cáo đã thực hiện để răn đe và giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Bùi Châu T phạm tội “Cƣớp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Tài sản thu hồi đã trả lại bị hại và trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm s, h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tình tiết giảm nh cho bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.

Về lƣợng hình: Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo T là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) dây chuyền bằng vàng 18k, trọng lƣợng 2 chỉ và 01 (một) mặt dây chuyền bằng vàng 18k, trọng lƣợng 05 phân. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã có quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị hại Dƣơng Thị Ánh T, bà T không yêu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với 01 (một) xe mô tô Yamaha exciter, màu vàng-đen biển số 70E1 - 252.51 có số khung: RLCE1S9408Y017763, số máy: 1S94-017763 quá trình điều tra, bị cáo Bùi Châu T khai mua lại chiếc xe trên tại cửa hàng xe máy Ngô Qui - ngƣời đại diện theo pháp luật ông Ngô Thanh Qui. Ông Qui xác định ông mua chiếc xe trên từ ông Nguyễn Minh Phụng nhƣng chƣa tiến hành sang tên. Quá trình điều tra xác minh, ông Phụng không có mặt tại địa phƣơng, do đó cần tiếp tục giao xe mô tô có số khung: RLCE1S9408Y017763, số máy: 1S94-017763, biển số 70E1 - 252.51 cho Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Đối với đối tƣợng V là ngƣời cùng thực hiện hành vi phạm tội với Bùi Châu T, hiện chƣa xác định đƣợc nhân thân lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra cần tiếp tục xác minh, khi nào xác minh đƣợc sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s, h khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Bùi Châu T phạm tội “Cƣớp giật tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Châu T 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27 tháng 3 năm 2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không

4. Về xử lý vật chứng: Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An 01 (một) xe mô tô 02 bánh, nhãn hiệu Yamaha loại Exciter, màu vàng-đen, biển số 70E1 - 252.51 có số khung: RLCE1S9408Y017763, số máy: 1S94-017763 cho Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau theo quy định.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/9/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thuận An).

5. Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Châu T phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ