- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn N và đồng phạm - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt b cáo Lê Văn N 15 (mười lăm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 341 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 262/2022/HSPT Ngày: 15-7-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cường
Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Tiến
Ông Trương Minh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Mỹ Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 234/2022/TLPT-HS ngày 08 tháng 6 năm 2022 đối với cáo Lê Văn N và đồng phạm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Do có kháng cáo của các b cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2022/HSST ngày 04/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
* Bị cáo có kháng cáo:
1. Lê Văn N. Sinh năm 1970 tại Phù Mỹ, Bình Đ nh. Nơi đăng ký HKTT: tổ 2, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Lê C và à Trần Th H; có vợ là Trần Th Ngọc X chưa có con; tiền án: không,tiền sự: không; bắt theo lệnh truy nã ngày 13/4/2021 và tạm giam cho đến nay, b cáo hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai, có mặt.
2. Trần Thị Ngọc X. Sinh ngày 19/11/1978 tại Kiên Giang. Nơi đăng ký HKTT: tổ 14, ấp T1, xã T2, huyện T3, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Trần Văn S (đã chết) và à Trần Th P; sống chung như vợ chồng với Lê Văn N, b cáo 03 con lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền án: không, tiền sự: không; bắt theo lệnh truy nã ngày 13/4/2021và b tạm giam cho đến nay, b cáo hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai, vắng mặt. 4. Chu Khắc Đ. Sinh năm 1960 tại Hà Nam. Nơi đăng ký HKTT: thôn N, xã I, huyện P1, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Chu Khắc L (đã chết) và à Mai Th D (đã chết); có vợ là Đinh Th Ph (đã chết), cáo có 03 con lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1991; tiền án: không, tiền sự: không; Nhân thân: Tại Bản án số 32/HS-ST ngày 14/10/2020 của TAND huyện I1, tỉnh Gia Lai đã tuyên phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”quy đ nh tại Điều 341 Bộ luật Hình sự. B cáo được áp dụng iện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt. * Người ào chữa cho b cáo Lê Văn N: Ông Tống Đức N1 – Luật sư Văn phòng Luật sư HT – Đoàn Luật sư tỉnh Gia Lai, có mặt * Người ào chữa cho b cáo Trần Th Ngọc X:
- Ông Phạm Ngọc Q – Luật sư Công ty luật TNHH MTV Q1 – Đoàn Luật sư tỉnh Gia Lai. Đ a chỉ: 40 đường L, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai, có mặt
- Ông Thái Quốc T3 – Luật sư Văn phòng Luật sư B – Đoàn Luật sư tỉnh Gia Lai, có đơn xin xét xử vắng mặt và có gửi Luận cứ ào chữa cho b cáo. * Bị hại:
- Bà Lương Th T4, sinh năm 1953. Đ a chỉ: 05 Đường V, phường I3, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Ông Lê Hoàng C1, sinh năm 1977. Đ a chỉ: 05 Đường V, phường I3, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Ông Lê Hoàng C1 là đại diện hợp pháp cho hại à Nguyễn Th Phi Y. Vắng mặt.
- Ông Cao Đình S, sinh năm 1982. Đ a chỉ: Tổ 3, phường T5, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
a. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong khoảng thời gian từ tháng 02/2018 đến tháng 03/2020, lợi dụng mối quan hệ quen iết với à Lương Th T4 (sinh năm: 1953), anh Lê Hoàng C1 (sinh năm: 1977) cùng trú tại: 05 Đường V, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai và anh Cao Đình S (sinh năm: 1982, trú tại: Tổ 03 phường T5, thành phố P, tỉnh Gia Lai), Lê Văn N và Trần Th Ngọc X đã thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm và lừa đảo chiếm đoạt của các cá nhân trên với tổng số tiền 2.040.000.000 đồng. Ngoài ra, Lê Văn N, Trần Th Ngọc X còn cùng với Nguyễn Văn S1 và Chu Khắc Đ thực hiện hành vi làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức. Cụ thể như sau:
1. Hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt của bà Lương Thị T4 số tiền 600.000.000 đồng:
Thông qua các mối quan hệ xã hội nên Lê Văn N và Trần Th Ngọc X có quan hệ quen iết với à Lương Th T4. Đến khoảng đầu tháng 02/2018, Lê Văn N đặt vấn đề góp vốn để kinh doanh “đất hiếm” thu lợi nhuận cao với phương thức à Lương Th T4 đầu tư tiền để Lê Văn N tự đi thu mua “đất hiếm” ở Hà Nội về thành phố Hồ Chí Minh án, tiền lợi nhuận chia đôi. N cho iết tr giá “đất hiếm” từ 800.000.000 đồng đến 900.000.000 đồng/tấn. Vào ngày 26/02/2018, Trần Th Ngọc X đã ký hợp đồng số 2602/2018 với ông Cao Văn H (Giám đốc Công ty TNHH Thương mại d ch vụ xuất nhập khẩu N2 tại đ a chỉ số 1030/23 đường V1, phường Y1, quận Y2, thành phố Hồ Chí Minh) để án cho Công ty N2 55.000 kg “đất hiếm” với giá 1.500.000 đồng/kg. Sau đó, Lê Văn N thông áo cho à T4 iết đã tìm được nguồn hàng là khoảng 02 tấn hàng ở Hà Nội và yêu cầu à T4 chuyển cho N số tiền 1.600.000.000đồng để mua “đất hiếm”. Do vậy, à T4 đã chuyển vào tài khoản số 060066575708 của N mở tại Ngân hàng TMCP Thương Tín chi nhánh tại Gia Lai số tiền 1.600.000.000đồng để N thu mua. Ngày 02/3/2018, Lê Văn N, Trần Th Ngọc X đã vận chuyển lô hàng “đất hiếm” vào thành phố Hồ Chí Minh nên à T4 vào thành phố Hồ Chí Minh để kiểm tra, xác đ nh khối lượng mà N, X nhập về là 2.028 kg. Số “đất hiếm” trên đã được à T4 giao cho anh Thái Văn D1 là quản lý kho hàng số 02 (thuộc xã B, huyện H2, thành phố Hồ Chí Minh) quản lý. Đến sáng ngày 03/3/2018, Lê Văn N đã án lô hàng “đất hiếm” trên cho Công ty N2. N tiếp tục đưa ra thông tin có 03 tấn “đất hiếm” ở Hà Nội nên nói à T4 chuyển tiền để N đi thu mua nên à T4 đã đưa thêm cho Lê Văn N, Trần Th Ngọc X số tiền 1.300.000.000 đồng để N, X tiếp tục mua “đất hiếm”. Tuy nhiên, sau khi nhận số tiền này, Lê Văn N và Trần Th Ngọc X không đi thu mua “đất hiếm” nữa. Lê Văn N nói với à T4 là do chất lượng “đất hiếm” không đạt tiêu chuẩn nên Công ty N2 không thu mua. Sau nhiều lần à T4 yêu cầu hoàn trả số tiền vốn đã chi cho N và X để mua “đất hiếm” thì từ ngày 09/3/2018 đến ngày 07/5/2018, N và X chỉ chuyển trả lại cho à Lương Th T4 tổng số tiền là 2.300.000.000 đồng. Sau đó N và X đã ỏ trốn khỏi đ a phương, cắt liên lạc với à Lương Th T4, chiếm đoạt số tiền 600.000.000 đồng còn lại, tiêu xài cá nhân.
2. Hành vi Lạm dụng tín nhiệm, chiếm đoạt của bà Lương Thị T4 và anh Lê Hoàng C1 tổng số tiền 790.000.000 đồng: Ngày 15/3/2018, à Lương Th T4 đã mua căn nhà số 505 hẻm L1, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai của ông Trần Văn C2 và à Lê Th N3 (trú tại: Tổ 02, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai) với giá 1.650.000.000đồng. Bà T4 với ch N3 đã viết, ký nhận giấy thoả thuận đặt cọc số tiền 200.000.000đồng. Bà T4 đã thanh toán cho ch N3 tổng số tiền 1.434.000.000đồng. Sau đó, Lê Văn N và Trần Th Ngọc X hỏi mua lại căn nhà trên nên à T4 đồng ý chuyển nhượng lại cho N, X với số tiền 1.650.000.000đồng nhưng chưa nhận tiền. N, X hứa sau khi án được “đất hiếm” sẽ thanh toán tiền cho à T4. Ngày 10/4/2018, theo yêu cầu của à T4 nên à N3 và ông C2 đã làm thủ tục chuyển nhượng căn nhà trên cho Lê Văn N đứng tên chủ sở hữu và đã được các cơ quan có thẩm quyền chỉnh lý trang 4 qua tên Lê Văn N. Tuy nhiên, GCNQSDĐ, nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BC 524635 này à T4 cất giữ. Ngày 28/6/2018, Trần Th Ngọc X đã thanh toán cho à N3 số tiền 116.000.000đồng. Đến ngày 16/12/2018, à Lương Th T4 cùng với Lê Văn N và Trần Th Ngọc X đã T5 án căn nhà trên cho vợ chồng anh Lê Hoàng C1 và ch Nguyễn Th Phi Y với số tiền 2.100.000.000đồng. Mặc dù chưa trả hết tiền nhà cho à T4 (chưa cấp GCNQSDĐ qua tên cho N) nhưng N, X yêu cầu được nhận số tiền 700.000.000đồngthì mới làm thủ tục hợp đồng công chứng sang tên cho vợ chồng anh C1, ch Y. Anh C1 đồng ý, Lê Văn N và anh Lê Hoàng C1 đã viết, ký nhận giấy thoả thuận đặt tiền cọc mua nhà đề ngày 16/12/2018 và đưa số tiền 700.000.000đồng cho N, X. Sau khi nhận số tiền trên, Lê Văn N và Trần Th Ngọc X không thực hiện việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng căn nhà, đất trên cho vợ chồng anh C1. Bà Lương Th T4 đã nhiều lần liên lạc, yêu cầu Lê Văn N và Trần Th Ngọc X làm thủ tục chuyển nhượng căn nhà trên cho anh Lê Hoàng C1 nhưng N, X né tránh không thực hiện. Đến ngày 31/10/2019, Trần Th Ngọc X đến gặp ch Nguyễn Th Phi Y (vợ anh C1) nói cho ứng thêm số tiền 20.000.000đồng để làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng căn nhà, đất trên cho vợ chồng anh C1. Vì muốn N, X thực hiện chuyển nhượng sang tên cho mình nên ch Y tiếp tục đưa cho X số tiền trên. Vào ngày 06/11/2019, Lê Văn N, Trần Th Ngọc X liên lạc với à Lương Th T4 yêu cầu đưa GCNQSDĐ số Q524365 để N, X đi làm thủ tục sang tên cho anh C1, nên à T4 đưa GCNQSDĐ số Q524365 cho Trần Th Ngọc X. Thực chất sau khi nhận số tiền trên của ch Y và lấy được GCNQSDĐ của à T4 thì N, X đã làm thủ tục yêu cầu cấp GCNQSDĐ mới mang tên Lê Văn N, số tiền còn lại N và X tiêu xài hết. Đến ngày 08/11/2019, Trần Th Ngọc X tiếp tục đến nhà à Lương Th T4, đưa ra thông tin X có mối quan hệ làm được giấy tờ đối với diện tích 04 mét đất còn lại và nói cho ứng thêm số tiền 70.000.000đồng để làm thủ tục nên à T4 tiếp tục giao cho X số tiền trên.Sau khi nhận được tiền, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ch Y, à T4 giao, Lê Văn N và Trần Th Ngọc X không làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang cho anh C1, ch Y như cam kết mà ỏ trốn nhằm mục đích chiếm đoạt của vợ chồng anh C1, ch Y tổng số tiền 720.000.000 đồng, chiếm đoạt của à Lương Th T4 số tiền 70.000.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã ra Quyết đ nh trưng cầu giám đ nh số 147/CSHS ngày 22/9/2020, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Gia Lai giám đ nh chữ viết, chữ ký trong Giấy thoả thuận đặt tiền cọc mua nhà do Lê Văn N viết, ký nhận với anh Lê Hoàng C1. Tại Kết luận giám đ nh số 711/KLGĐ ngày 01/10/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự kết luận: Chữ viết, chữ ký đứng tên Lê Văn N trong giấy thoả thuận đặt tiền cọc đề ngày 16/12/2018 là do cùng một người viết, ký ra.
3. Hành vi Lừa đảo, chiếm đoạt của anh Cao Đình S số tiền 650.000.000 đồng:
Mặc dù vào ngày 16/12/2018, Lê Văn N và Trần Th Ngọc X đã ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng nhà, đất ở đ a chỉ số 505 hẻm L1, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai và nhận số tiền 720.000.000đồng của vợ chồng anh Lê Hoàng C1 nhưng vào khoảng đầu tháng 3/2020, Lê Văn N và Trần Th Ngọc X vẫn đặt vấn đề thế chấp căn nhà, đất trên cho anh Cao Đình S để vay số tiền 650.000.000 đồng. Anh S đã đi kiểm tra nhà, kiểm tra GCNQSDĐ đất số CQ 786793 đứng tên sở hữu Lê Văn N, Trần Th Ngọc X, tin tưởng là thật nên anh S đã đồng ý cho N và X vay tiền. Vào ngày 09/3/2020, anh S đã giao cho Lê Văn N và Trần Th Ngọc X số tiền 650.000.000 đồng, đồng thời Lê Văn N, Trần Th Ngọc X đã ký hợp đồng uỷ quyền cho anh Cao Đình S được quản lý, sử dụng, chuyển nhượng quyền sử dụng căn nhà, đất trên. Sau khi thế chấp căn nhà, đất số 505 hẻm L1 cho anh Cao Đình S thì Lê Văn N và Trần Th Ngọc X đã ỏ trốn. Đến ngày 17/8/2020, khi anh Cao Đình S làm thủ tục chuyển nhượng căn nhà đất trên cho anh Cao Đình H3 (trú tại: Tổ 06, phường T5, thành phố P, tỉnh Gia Lai) thì phát hiện Lê Văn N, Trần Th Ngọc X đã có thủ đoạn gian dối trong việc làm giả giấy tờ chuyển khẩu và Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn để làm thủ tục hồ sơ công chứng hợp đồng ủy quyền chuyển nhượng căn nhà trên chiếm đoạt số tiền 650.000.000 đồng.
4. Hành vi làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức của Lê Văn N, Trần Thị Ngọc X, Nguyễn Văn S1 và Chu Khắc Đ:
Xuất phát từ mối quan hệ quen iết từ trước với Chu Khắc Đ (nguyên là công an viên xã I, huyện P1, tỉnh Gia Lai) nên đến khoảng năm 2018, Nguyễn Văn S1 đã đưa 50 (năm mươi) mẫu Giấy chuyển hộ khẩu, nhờ Chu Khắc Đ đóng khống dấu Công an xã I lên mẫu giấy chuyển hộ khẩu và lấy mẫu dấu tên, mẫu chữ ký của ông Ksor B1 là Phó trưởng Công an xã I mục đích để Sinh sử dụng vào việc làm giả giấy tờ chuyển hộ khẩu cho các cá nhân có nhu cầu cắt, nhập hộ khẩu trên đ a àn các huyện và thành phố P, tỉnh Gia Lai để hưởng lợi. Chu Khắc Đ đã đồng ý, khi được phân công trực tại Công an xã I, lợi dụng trong công tác quản lý, Chu Khắc Đ đã tự mở tủ đựng con dấu của Công an xã I để lấy mẫu dấu Công an xã I đóng khống lên 50 (năm mươi) mẫu Giấy chuyển hộ khẩu do Nguyễn Văn S1 đưa, lấy mẫu dấu tên và mẫu chức danh của ông Ksor B1 (Phó trưởng Công an xã I) rồi gửi lên cho Nguyễn Văn S1, Chu Khắc Đ đã được Nguyễn Văn S1 đưa số tiền 2.000.000 đồng. Khoảng đầu tháng 11/2019, do được Lê Văn N và Trần Th Ngọc X nhờ làm giả Giấy chuyển khẩu và Giấy đăng ký kết hôn với số tiền 2.000.000 đồng nên Nguyễn Văn S1 đã làm giả 01 Giấy chuyển hộ khẩu số 58/GCK đề ngày 05/11/2019 ằng hình thức: Điền thông tin vào Giấy chuyển hộ khẩu khống Sinh đã nhờ Đ đóng dấu, rồi giả chữ ký của ông Ksor B1 (Phó trưởng Công an xã), nội dung xác nhận Lê Văn N, Trần Th Ngọc X có hộ khẩu tại thôn N, xã I, huyện P1 để chuyển đến tổ 02, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai và mua 01 mẫu Giấy đăng ký kết hôn giả của một đối tượng tên Út tại đường Lý Nam Đế, khu vực ến xe Đức Long Gia Lai (không xác đ nh được nhân thân, lai l ch) đã có sẵn mẫu dấu của UBND huyện P1 và chữ ký của ông Nguyễn Quốc, rồi điền thông tin, nội dung: UBND th trấn P1 chứng nhận kết hôn cho Lê Văn N với Trần Th Ngọc X. Sau đó, Nguyễn Văn S1 đã trực tiếp đi làm thủ tục nhập hộ khẩu cho Lê Văn N và Trần Th Ngọc X đến nhà số 505 hẻm L1 thuộc tổ 02, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Căn cứ vào hồ sơ xin cắt - nhập khẩu, Lê Văn N, Trần Th Ngọc X đã được Công an thành phố P cấp sổ hộ khẩu số 210331607 ngày 12/11/2019. Đến ngày 09/3/2020, Lê Văn N và Trần Th Ngọc X đã sử dụng Giấy đăng ký kết hôn giả làm thủ tục hồ sơ công chứng hợp đồng ủy quyền chuyển nhượng căn nhà số 505 hẻm L1 thuộc tổ 02, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai cho anh Cao Đình S để chiếm đoạt của anh Lê Hoàng C1 và Cao Đình S tổng số tiền 1.370.000.000đồng. Kết quả xác minh tại Công an xã I, huyện P1, tỉnh Gia Lai xác đ nh tại thôn N, xã I, huyện P1 không có nhân khẩu nào tên Lê Văn N, Trần Th Ngọc X đăng ký cư trú tại đ a phương. Kiểm tra tại sổ theo dõi Giấy chuyển hộ khẩu năm 2019 xác đ nh ngày 05/11/2019, Công an xã I không ký xác nhận Giấy chuyển hộ khẩu cho Lê Văn N và Trần Th Ngọc X, nơi ĐKNKTT tại thôn N, xã I như nội dung Giấy chuyển hộ khẩu trên. Kết quả xác minh tại UBND th trấn P1 xác đ nh ngày 16/10/2016, UBND th trấn P1 không có chứng nhận đăng ký kết hôn cho trường hợp nào có tên Lê Văn N, Trần Ngọc X như nội dung Giấy đăng ký kết hôn trên.
Cơ quan điều tra đã ra Quyết đ nh trưng cầu giám đ nh số 01/CSHS ngày 29/12/2020, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Gia Lai giám đ nh mẫu hình dấu, chữ viết, chữ ký trong Giấy chuyển hộ khẩu số 58 ngày 05/11/2019. Tại kết luận giám đ nh số 69/KLGĐ ngày 15/01/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự kết luận: Chữ ký đứng tên Ksor B trên Giấy chuyển hộ khẩu (mẫu cần giám đ nh) với chữ ký đứng tên Ksor B trên ản tự khai của Nguyễn Văn S1 (mẫu so sánh) là do cùng một người ký ra. Hình dấu tròn có nội dung “CÔNG AN XÃ I- CÔNG AN HUYỆN P1 TỈNH GIA LAI” trên “GIẤY CHUYỂN HỘ KHẨU” (mẫu cần giám đ nh) so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên các mẫu so sánh là do cùng một con dấu đóng ra.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2022/HSST ngày 04/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đ quyết định:
1. Về tội danh:
Tuyên ố các cáo Lê Văn N, Trần Th Ngọc X phạm các tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tuyên bố b cáo Chu Khắc Đ phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
2.1 Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự;
Xử phạt b cáo Lê Văn N 15 (mười lăm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Xử phạt b cáo Trần Th Ngọc X 15 (mười lăm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
2.2 Áp dụng khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự;
Xử phạt b cáo Lê Văn N 14 (mười bốn) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt b cáo Trần Th Ngọc X 14 (mười bốn) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
2.3 Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt b cáo Lê Văn N 3 ( a) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Xử phạt b cáo Trần Th Ngọc X 3 ( a) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
2.4 Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự:
Buộc b cáo Lê Văn N phải chấp hành hình phạt chung của ba tội 30 (ba mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 13/4/2021.
Buộc b cáo Trần Th Ngọc X phải chấp hành hình phạt chung của ba tội 30 ( a mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 13/4/2021. 2.5 Áp dụng khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự, điểm s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt b cáo Chu Khắc Đ 12 (mười hai) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. + Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 7 Ngh Quyết 02/2018 ngày 05/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Buộc b cáo phải chấp hành đồng thời hai bản án là hình phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày 14/10/2020 của Bản án số 32/HS-ST ngày 14/10/2020 của TAND huyện I1, tỉnh Gia Lai về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và hình phạt 12 (mười hai) tháng tù của bản án này. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày cáo chấp hành án. Việc thi hành án do các cơ quan được giao trách nhiệm thi hành án hình sự phối hợp thực hiện theo quy đ nh của Luật Thi hành án hình sự. Ngoài ra, ản án sơ thẩm còn quyết đ nh về hình phạt đối với b cáo Nguyễn Văn S1, về trách nhiệm dân sự, về phần xử lý vật chứng, án phí, quy đ nh về thi hành án và quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật. Ngày 6/5/2022, b cáo Lê Văn N kháng cáo xin giảm hình phạt (BL-697). Ngày 17/5/2022, cáo Trần Th Ngọc X kháng cáo xin giảm hình phạt (BL-699). Ngày 18/5/2022, cáo Chu Khắc Đ kháng cáo xin hưởng án treo (BL-701). Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng cho rằng tại phiên toà phúc thẩm hôm nay (mở lần hai), b cáo Trần Th Ngọc X vắng do b ốm nhưng cáo chỉ kháng cáo xin giảm hình phạt, không có kháng cáo kháng ngh tăng nặng, do đó nên không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, đề ngh Hội đồng tiến hành xét xử vụ án theo quy đ nh. Về nội dung vụ án, Bản án sơ thẩm đã xét xử có căn cứ và đúng pháp luật; kháng cáo của các cáo xin giảm hình phạt và cáo Chu Khắc Đ kháng cáo xin hưởng án treo. Thấy rằng, hình phạt của bản án sơ thẩm áp dụng đối với các cáo là phù hợp. Trong giai đoạn phúc thẩm b cáo N, X có ồi thường, thành khẩn khai áo, hại xin giảm hình phạt cho các cáo, tuy nhiên các cáo phạm nhiều tội, Toà án cấp sơ thẩm tổng hợp hình phạt buộc các cáo phải chấp hành đến 30 năm tù nên việc giảm án cho cáo không có ý nghĩa và không C2 thiết. Kháng cáo xin hưởng án treo của b cáo Đ không có cơ sở. Do đó, đề ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các cáo, giữ nguyên ản án sơ thẩm về hình phạt đối với các cáo. Các Luật sư ào chữa cho b cáo Lê Văn N, Trần Th Ngọc X đề ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm hình phạt cho các cáo, vì các cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong giai đoạn phúc thẩm các cáo đã ồi thường, phía hại xin giảm hình phạt cho các cáo, các cáo thành khẩn khai áo, thừa nhận hành vi phạm tội. Toà án cấp sơ thẩm xử phạt các cáo quá nghiêm khắc, đề ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự giảm hình phạt cho các cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, xem xét ý kiến của Luật sư và quan điểm của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, các cáo Lê Văn N, Chu Khắc Đ có mặt tại phiên toà, cáo Trần Th Ngọc X vắng mặt. Theo áo cáo của cơ quan Cảnh sát tư pháp tại phiên toà phúc thẩm sáng nay cáo X ốm đột xuất nên không trích xuất đến phiên toà được. Thấy rằng, trong vụ án này cáo Trần Th Ngọc X chỉ kháng cáo xin giảm hình phạt và không kháng cáo, kháng ngh tăng nặng. Mặt khác, Luật sư Phạm Ngọc Q ào chữa cho b cáo đề ngh Hội đồng xét xử vụ án vì cáo chỉ kháng cáo xin giảm và Luật sư Thái Quốc T3 có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi luận cứ xin giảm hình phạt cho b cáo. Việc b cáo X vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy đ nh tại Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự, như đề ngh của Viện kiểm sát tại phiên toà phúc thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, các cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Toà án cấp sơ thẩm xét xử là đúng. B cáo Lê Văn N giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt; trong đơn kháng cáo của b cáo Trần Th Ngọc X kháng cáo xin giảm hình phạt; b cáo Chu Khắc Đ giữ nguyên nội dung kháng cáo xin hưởng án treo.
Lời khai nhận tội của các cáo tại phiên toà và các chứng cứ có trong hồ sơ có đủ cơ sở kết luận.
Hành vi phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:
Tại phiên tòa sơ thẩm các cáo Lê Văn N và Trần Th Ngọc X không thừa nhận hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt 600.000.000 đồng mua đất hiếm của à Lương Th T4 và cho rằng đó là hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm các cáo thừa nhận và căn cứ các tài liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án như phiếu nhập kho và phiếu chi tiền của công ty TNHH TMDV XNK N2 thể hiện cáo X giao d ch và nhận tiền mua án đất hiếm với công ty vào thời điểm tháng 3/2018. Các tài liệu khác như ảng sao kê từ Ngân hàng Sacom ank và iên lai chuyển tiền thu được từ cáo X thể hiện à T4 chuyển tiền nhiều lần vào tài khoản của cáo N từ tháng 2/2018, cáo N cũng chuyển trả lại cho à T4 thời điểm tháng 3/2018. Thời điểm này chưa xảy ra vấn đề mua án nhà đất giữa à T4 và các cáo, do đó quan hệ hợp tác làm ăn mua án đất hiếm và chiếm đoạt số tiền 600.000.000 đồng như lời khai của à T4 và lời khai có tại hồ sơ vụ án của các cáo là có căn cứ. Như vậy, việc các cáo nhận hành vi lừa đảo là muốn chối hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng thể hiện thái độ quanh co, gian dối của các cáo N và X. Ngoài ra, từ tháng 12/2018 đến tháng 11/2019 à T4 chuyển nhượng cho hai cáo nhà, đất hẻm 505 L1, thành phố P với thỏa thuận nhận được tiền án đất hiếm thì các cáo trả tiền mua nhà đất nên à T4 nhất trí chuyển từ vợ chồng anh Trần Văn C2 và ch Lê Th N3 sang cho hai cáo (chỉnh lý trang 4), à T4 giữ giấy tờ. Do không án được đất hiếm không trả được tiền nhà nên giữa à T4 với hai cáo đồng ý chuyển nhượng nhà đất trên cho vợ chồng anh Lê Hoàng C1 và ch Nguyễn Th Phi Y với giá 2.100.000.000đ. Sau khi nhận được tổng số tiền 720.000.000 đồng đặt cọc từ vợ chồng anh C1 và 70.000.000 đồng từ à T4 để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất còn lại thì cáo N và X cố tình né tránh không thực hiện cam kết làm hợp đồng công chứng chuyển nhượng căn nhà trên cho vợ chồng anh C1 cũng không làm các thủ tục đề ngh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất còn lại cho à T4 mà chiếm đoạt số tiền 790.000.000 đồng nêu trên tiêu xài. Vì vậy, Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử các cáo Lê Văn N và Trần Th Ngọc X tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự với tình tiết đ nh khung “Phạm tội chiếm đoạt tài sản tr giá 500.000.000 đồng trở lên” là có căn cứ và đúng tội. Về hành vi phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Sau khi được à T4 đồng ý giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với căn nhà, đất tại đất hẻm 505 đường L1, thành phố P để các cáo làm thủ tục mua án với vợ chồng anh C1 và làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn lại cho à T4 thì cáo N, X không thực hiện như thỏa thuận mà thuê Nguyễn Văn S1 làm giả giấy xác nhận chuyển khẩu từ P1 đến P và giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của N và X do UBND th trấn P1 cấp. Khi có được những giấy tờ trên thì tiến hành cấp đổi thành Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới mang tên mình, đến tháng 3/2020 N và X đã ký hợp đồng ủy quyền cho anh Cao Đình S với nội dung được quản lý, sử dụng, chuyển nhượng quyền sử dụng căn nhà, đất trên để vay số tiền 650.000.000 đồng rồi bỏ trốn khỏi đ a phương. Do đó, Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử cáo Lê Văn N và Trần Th Ngọc X tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết đ nh khung “Chiếm đoạt tài sản có giá tr từ năm trăm triệu đồng trở lên” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Về hành vi phạm tội Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức:
Năm 2018 Nguyễn Văn S1 đã tự làm 50 mẫu tờ giấy chuyển khẩu rồi đưa cho Chu Khắc Đ đóng dấu khống của Công an xã I, huyện P1 và cung cấp cho Sinh mẫu chữ ký của ông Ksor B1 Phó Công an xã I, để cáo Sinh làm giả giấy tờ chuyển hộ khẩu cho các cá nhân có nhu cầu. Khi được N và X nhờ làm thủ tục chuyển hộ khẩu về tổ 02, phường T, thành phố P thì Sinh đã sử dụng 01 giấy chuyển khẩu trên tự điền thông tin để làm hồ sơ, thủ tục đăng ký nhập khẩu cho N và X. Sau đó, N và X tiếp tục nhờ Sinh làm giả giấy chứng nhận đăng ký kết hôn thì Sinh đã mua 01 phôi có sẵn con dấu và chữ ký của Phó chủ t ch UBND th trấn P1, tự điền thông tin cá nhân của N và X vào phôi giấy đăng ký kết hôn rồi giao lại cho N, X. B cáo Nguyễn Văn S1 đã hưởng lợi 2.000.000 đồng từ hành vi làm giả này.
Sau khi có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, N và X đã làm thủ tục ký hợp đồng ủy quyền chuyển nhượng nhà, đất cho anh Cao Đình S.
Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xét xử cáo N, X về tội “làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, Chu Khắc Đ về tội “ Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức” là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm hình phạt cua cáo Lê Văn N và cáo Trần Th Ngọc X, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng, Hành vi của cáo Lê Văn N và Trần Th Ngọc X là đặc iệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của cáo Chu Khắc Đ là nghiêm trọng, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước được pháp luật ảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự tr an trên đ a àn. Mặc dù nhân thân cáo chưa có tiền án tiền sự nhưng khi sự việc phạm tội xảy ra các cáo N, Đ ỏ trốn, sau đó
ắt theo lệnh truy nã. Toà án cấp sơ thẩm kết án các cáo N, Đ như ản án sơ thẩm tuyên là tương xứng với tính chất hành vi và hậu quả của vụ án. Trong giai đoạn phúc thẩm, Luật sư của các cáo N, X có xuất trình iên lai nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và đơn xin ải nại của hại Lương Th T4, Lê Hoàng C1, thể hiện đã ồi thường phần dân sự thông qua ông Lê Văn H5 (em ruột ông N – cư trú tại : Thôn H6, xã K, huyện Đ1, tỉnh Gia Lai). Do đó, Toà án cấp phúc thẩm cần áp dụng các điểm , s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các cáo (đối với tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”). Tuy nhiên trong trường hợp này các cáo phạm nhiều tội, phạm tội rất nghiêm trọng, đặc iệt nghiêm trọng và Toà án cấp sơ thẩm tuyên xử các cáo với hình phạt thoả đáng và đã tổng hợp hình phạt chung của nhiều tội, uộc các cáo phải chấp hành đến 30 năm tù là có căn cứ và đúng pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của cáo N và cáo Đ, giữ nguyên ản án sơ thẩm. [5] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của cáo Chu Khắc Đ, thấy rằng cáo Đ tuy có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thành khẩn khai áo. B cáo Chu Khắc Đ có cha ông Chu Khắc L2 là liệt sỹ, quá trình công tác tại Công an xã I, huyện P1 cáo được UBND xã I, UBND huyện P1 và Công an tỉnh Gia Lai tặng nhiều Giấy khen vì có thành tích trong công tác ảo vệ trật tự tr an tại đ a phương. Do đó, được áp dụng điểm s, điểm x khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng cáo Đ có nhân thân không tốt, năm 2020 đã Toà án xử phạt về hành vi “Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức” nên không thoả mãn điều kiện cho hưởng án treo. Từ những phân tích và lập luận trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử vụ án có căn cứ và đúng pháp luật, hình phạt tuyên đối với các cáo là tương xứng với tính chất hành vi và hậu quả của vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các cáo, giữ nguyên ản án sơ thẩm về hình phạt đối với các cáo. Các cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải ch u án phí hình sự phúc thẩm theo quy đ nh tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Ngh quyết 326/2016/NQ-UBTVQH về án phí lệ phí Toà án. Các quyết đ nh khác của ản án sơ thẩm không kháng cáo kháng ngh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng ngh . Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Văn N, Trần Thị Ngọc X và Chu Khắc Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự;
- Xử phạt b cáo Lê Văn N 15 (mười lăm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
- Xử phạt b cáo Trần Th Ngọc X 15 (mười lăm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Áp dụng khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt b cáo Lê Văn N 14 (mười bốn) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Xử phạt b cáo Trần Th Ngọc X 14 (mười bốn) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
- Xử phạt b cáo Lê Văn N 3 ( a) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Xử phạt b cáo Trần Th Ngọc X 3 ( a) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự:
Buộc b cáo Lê Văn N phải chấp hành hình phạt chung của ba tội 30 (ba mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 13/4/2021.
Buộc b cáo Trần Th Ngọc X phải chấp hành hình phạt chung của ba tội 30 ( a mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 13/4/2021.
Áp dụng khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự, điểm s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt b cáo Chu Khắc Đ 12 (mười hai) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 7 Ngh Quyết 02/2018 ngày 05/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Buộc b cáo Chu Khắc Đ phải chấp hành đồng thời hai bản án là hình phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày 14/10/2020 của Bản án số 32/HS-ST ngày 14/10/2020 của TAND huyện I1, tỉnh Gia Lai về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và hình phạt 12 (mười hai) tháng tù của bản án này. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày cáo chấp hành án.
Việc thi hành án do các cơ quan được giao trách nhiệm thi hành án hình sự phối hợp thực hiện theo quy đ nh của Luật Thi hành án hình sự.
Về án phí phúc thẩm hình sự: Buộc các b cáo Lê Văn N, Trần Th Ngọc X và Chu Khắc Đ mỗi b cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo kháng ngh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng ngh .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Gia Lai; - Cơ quan CSĐT-Công an tỉnh Gia Lai; - Phòng HSNV-Công an tỉnh Gia Lai; - Cơ quan CSTHAHS-CA tỉnh Gia Lai; - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai; - Cục THADS tỉnh Gia Lai; - Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai; - B cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, PHCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Cường |