vanban.org

Bản án 262/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa Phùng Thị H và Nguyễn Thành L"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ AN NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 262/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 27-6-2022
Về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Công Giáo

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Lê Minh Chiến

2. Ông Võ Thanh Liêm

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nguyệt Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Đồng Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 61/2021/TLST – HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1135/2022/QĐXX-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 1210/2022/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Phùng Thị H, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Phùng Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Thành L tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L năm 2019. Sau khi cưới, vợ chồng mượn mảnh đất của người bác, che tạm để ở một thời gian rồi thuê nhà trọ. Từ năm 2020 vợ chồng liên tục mâu thuẫn về tiền bạc, thu nhập không đủ chi tiêu. Anh Nguyễn Thành L nghiện ma túy, khi hết thuốc hút thì đánh đập chị. Chị nhiều lần bỏ về nhà mẹ ruột sống, anh Nguyễn Thành L đến xin lỗi, chị đồng ý về chung sống một thời gian thì anh lại tiếp tục chửi mắng, đánh đập. Vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 11/2021. Chị xác định không còn tình cảm với anh Nguyễn Thành L nên yêu cầu ly hôn.

Vợ chồng có 01 người con chung tên Nguyễn Phùng Kim X, sinh ngày 17/4/2020, hiện chị đang nuôi dưỡng. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.

Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Thành L đã được Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Nguyễn Thành L cố tình không đến Tòa cung cấp lời khai và tham gia tố tụng.

* Tại phiên tòa:

- Chị Phùng Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn tham gia phiên Tòa: Về tố tụng: Hoạt động tố tụng của Tòa án trong quá trình thụ lý và tại phiên Tòa đều tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị cho chị Phùng Thị H được ly hôn anh Nguyễn Thành L; giao cháu Nguyễn Phùng Kim X, sinh ngày 17/4/2020 cho chị Phùng Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Phùng Thị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét; Tài sản chung các đương sự không tranh chấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Chị Phùng Thị H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Thành L và giải quyết việc nuôi con; bị đơn Nguyễn Thành L có địa chỉ cư trú tại thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Nguyễn Thành L đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập hợp lệ nhưng anh Nguyễn Thành L đã không hợp tác, không đến Tòa án để cung cấp lời khai. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia tố tụng tại phiên tòa cũng đã được Tòa án tống đạt theo đúng thủ tục tố tụng dân sự nhưng anh Nguyễn Thành L vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Thành L.

Chị Phùng Thị H và anh Nguyễn Thành L tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L ngày 27/5/2019 nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp.

Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, đã không còn sống chung từ tháng 11/2021 cho đến nay. Chị Phùng Thị H xác định không còn tình cảm với anh Nguyễn Thành L nên yêu cầu ly hôn. Tòa án đã nhiều lần mời anh Nguyễn Thành L tham dự các phiên hòa giải để tìm cách hàn gắn hạnh phúc cho vợ chồng nhưng anh Nguyễn Thành L không đến Tòa nên không thể tiến hành việc hòa giải. Điều này chứng minh rằng anh Nguyễn Thành L đã không có thiện chí trong việc hàn gắn hạnh phúc. Kết quả xác minh được biết Nguyễn Thành L là đối tượng có tiền án, nghiện ma túy, thường xuyên không có mặt ở địa phương, không quan tâm chăm sóc vợ con. Đây chính là nguyên nhân cơ bản làm cho hôn nhân tan vỡ. Xét thấy mục đích hôn nhân giữa chị Phùng Thị H và anh Nguyễn Thành L không đạt được nên cần thiết chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phùng Thị H.

Về con chung: Chị Phùng Thị H và anh Nguyễn Thành L có 01 người con chung tên Nguyễn Phùng Kim X, sinh ngày 17/4/2020. Chị Phùng Thị H có yêu cầu nuôi con. Khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện…”. Xét thấy, cháu Nguyễn Phùng Kim X chưa đủ 36 tháng tuổi, trong thời gian vợ chồng không sống chung với nhau chị Phùng Thị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì thế, giao cho chị Phùng Thị H tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phùng Kim X. Chị Phùng Thị H không yêu cầu anh Nguyễn Thanh Nguyễn Thành L cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Các đương sự không tranh chấp nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Phùng Thị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 227, 264, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyeân xöû:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phùng Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Thành L.

2/ Về trách nhiệm nuôi dưỡng con chung sau ly hôn: Giao cho chị Phùng Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phùng Kim X, sinh ngày 17/4/2020. Chị Phùng Thị H không yêu cầu anh Nguyễn Thành L cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3/ Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.

4/ Về án phí: Chị Phùng Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004980 ngày 15/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã An Nhơn.

5/ Quyền kháng cáo: Chị Phùng Thị H có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Thành L vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ