- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn N và Bùi Quang H - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn N và đại diện người bị
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 262/2019/HS-PT Ngày: 17/9/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tào
Các Thẩm phán:
Ông Lê Phước Thanh
Ông Nguyễn Cường
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Hải An, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại
Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
Ông Đinh Ngọc Kính - Kiểm sát viên.
Vào ngày 17 tháng 9 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk,
Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 68/TLPT-HS ngày 28 tháng 12 năm 2019 đối với các bị cáo: Trần Văn N và Bùi Quang H về tội “Giết người” và “ Cố ý gây thương tích”. Do có kháng cáo của các bị cáo và kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2018/HS-ST ngày 21/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1057/2019/QĐXXPT-HS ngày 27
tháng 8 năm 2019.
- Các bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:
TRẦN VĂN N, sinh năm 1992 tại tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Số nhà
264/66 đường V, phường K1, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Thợ mộc; Con ông: Trần Văn D1, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1970; có vợ Nguyễn Thị Thanh Th1, sinh năm 1997; có 01 con, sinh năm 2015.
Nhân thân: Ngày 15/12/2010, bị TAND tỉnh Đắk Lắk xử phạt 03 năm tù về
tội Cố ý gây thương tích, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 29/12/2017, tạm giam ngày 05/01/2018, hiện
đang tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.
BÙI QUANG H, sinh năm 1967 tại tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn 3,
xã H1, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Trình độ học vấn: 7/10; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Bùi Quang B2 (đã chết) và bà Trần Thị M1, sinh năm 1940; có vợ Phạm Thị H1, sinh năm 1970 và 02 con (con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1992)
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khởi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại, có
mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn N: Luật sư Lại Nam H2, thuộc
Đoàn luật sư tỉnh Đắk Lắk; Có mặt.
- Người bị hại:
1. Ông Đặng Khắc Th1, sinh năm 1965 (chết)
Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Bà Phạm Thị Như L, sinh năm
1968 (là vợ của người bị hại); Nơi cư trú: Thôn 3, xã H1, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
2. Anh Nguyễn Viết Đ, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Thôn 3, xã H1, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 27/12/2017, anh Nguyễn Viết T điều khiển xe
mô tô đến cây xăng số 31 Quốc lộ 14, thuộc thôn 3, xã H1, thành phố B để đổ xăng vào xe, thì va chạm với xe mô tô ngược chiều do Bùi Quang H điều khiển, dẫn đến T và ông H cãi nhau. T về nhà kể lại sự việc với bố mình là ông Nguyễn Viết D và cùng với ông D đến nhà H tại thôn 3, xã H1. Khi đến nhà H, T và ông D tiếp tục cãi nhau với H. H dùng chân đạp vào người ông D. Thấy vậy, T túm cổ áo ông H kéo, làm cho H ngã xuống đất. Cùng lúc này, Đặng Khắc Th và Đặng Khắc T1 là cháu của H chạy đến, dùng chân tay và mũ bảo hiểm đánh T, thì được mọi người can ngăn; Ông Đặng Khắc Th1 là anh em cột chèo với ông H cũng chạy đến, túm cổ áo ông D và nói “Đi về đi” và đá vào người ông D một cái, thì được hai người cảnh sát giao thông đi ngang qua can ngăn.
Do T bị đánh gây thương tích, nên ông D và mọi người đưa T đến tiệm
thuốc tây B1 gần nhà ông H để băng bó vết thương. Nghe tin T bị Th và T1 đánh bị thương tích, nên Nguyễn Viết Đ là anh ruột của T, Nguyễn Thị Thanh Th1 là em ruột của T, Trần Văn N là em rể của T (chồng chị Th1) cũng chạy đến tiệm thuốc tây B1, để thăm hỏi T. Sau đó, ông D và Đ đến nhà ông H tiếp tục cãi nhau; Bà Phạm Thị H1 là vợ H can ngăn Đ và nắm cổ áo Đ, đẩy Đ đi về, thì H dùng cây gỗ đánh một cái vào đầu Đ, làm cho Đ và bà H1 ngã xuống đất. Lúc này, chị Bùi Thị Th2 là con gái của H, chạy đến nhà Bùi Khắc Th1 gọi “Anh Th, bác Th1 ơi! cứu bố cháu với”. Th1 cầm hai cây kim loại và cùng với Th chạy đến chỗ mọi người đang đánh nhau; Ông Th1 đưa cho Th một cây kim loại nhưng Th vứt bỏ tại sân nhà. Lúc này, Trần Văn N nhặt một con dao rựa ở lề đường và cầm trên tay; Thấy Đ và ông H đang đánh nhau, N cầm con dao rựa chạy đến, thì ông Th1 cầm cây kim loại định đánh N, thì N dùng con dao rựa chém một nhát vào đầu ông Th1, làm ông Th1 ngã gục xuống đất; N cầm con dao rựa về nhà ông D cất giấu, rồi bỏ trốn; Ông Th1 được gia đình đưa đến bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk cấp cứu; Sau đó, được chuyển đến bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh nhưng do vết thương quá nặng, ông Th1 đã chết vào ngày 30/12/2017; Ngày 29/12/2017, Trần Văn N đến công an thành phố B đầu thú.
Biên bản khám nghiệm hiện trường xác định: Nơi xảy ra sự việc là khoảng
đất trống trước số nhà số 51, thuộc thôn 3, xã H1, thành phố B; hướng Đông tiếp giáp với phần đất trước số nhà 49, thôn 3, xã H1; hướng Tây tiếp giáp với phần đất trước số nhà 57, thôn 3, xã H1; hướng N tiếp giáp phía trước số nhà 51 đến số nhà 55, thôn 3, xã H1; hướng Bắc tiếp giáp với Quốc lộ 14.
Trước cổng số nhà 51 về hướng Đông Bắc, có một áo khoác vải màu đen,
01 mũ lưỡi trai màu đen và tạp chất dịch màu nâu đỏ nằm trong diện tích l,7m x 0,9m. Tại khu vực này có 02 thanh sắt có chiều dài 0,85m và 1,08m; đường kính của 02 thanh sắt là 02cm; Mở rộng hiện trường về hướng Tây 03m có 03 đôi dép màu vàng; Mở rộng hiện trường về hướng Bắc ngay tại mép đường có 01 chiếc dép; Trước tiệm thuốc tây B1, có 01 chiếc áo khác màu đen thứ hai, 01 đôi dép da và 01 mũ bảo hiểm màu xanh; Mở rộng hiện trường về hướng Tây Bắc cách mũ bảo hiểm 4,9m có 01 mũ lưỡi trai thứ hai.
Biên bản khám nghiệm tử thi ngày 30/12/2017 xác định: Đầu tử thi Đặng
Khắc Th1 có đường mổ từ thái dương phải đến trán trái dài 24cm, được khâu 23 mũi chỉ rời. Mổ tử thi phát hiện bên phải đường mổ có đường mép sắc gọn dài 8cm, có hướng từ trên xuống dưới, từ phải sang trái; Tụ máu lan rộng vùng đỉnh hai bên kích thước 20cm x 10cm; Mảnh xương sọ lớn có kích thước 17cm x 7,5cm, phía sau mảnh xương có bờ mép sắc gọn dài 8,5cm, có đường nứt chạy về phía trước; Tổ chức não vùng đỉnh phải hoại tử thành nhiều mảnh, sâu 5cm; Vùng hoại tử có nhiều máu cục; Toàn bộ tổ chức não hai bán cầu phù nề nặng.
Bản kết luận pháp y tử thi số:212/GĐPY ngày 30/01/2018, của Phòng kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Nguyên nhân Đặng Khắc Th1 tử vong là vết thương vùng đầu, gây nên đứt xương sọ, tổn thương sọ não; Tụ máu, phù nề và hoại tử não nặng; Dẫn đến choáng hôn mê não không hồi phục.
Vật tác động: Vật cứng có lưỡi sắc tác động vào vùng thái dương phải,
vùng trán nạn nhân theo hướng từ phải sang trái, từ trên xuống dưới.
Bản kết luận giám định số: 401/C54 ngày 18/6/2018 của Phân viện khoa
học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Các sợi màu đen trên dao rựa là tóc người, do không có tế bào gốc tóc, nên không thể giám định ADN. Chất dịch đã khô màu nâu đỏ trên dao rựa, là máu của Đặng Khắc Th1.
Các bản kết luận pháp y thương tích số: 137/PY-TgT ngày 09/3/2018; số:
121/PY-TgT ngày 03/01/2018; số: 122/PY-TgT ngày 18/01/2018 của Trung Tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Bùi Quang H bị vết thương phần mềm khuỷu tay trái; tỷ lệ thương tích 04%. Nguyễn Viết Đ bị vết thương đầu, chấn động não; tỷ lệ thương tích 10%. Vật tác động: Cứng, tày. Nguyễn Viết T bị gãy xương chính mũi 09%, vật tác động: Cứng, tày; vết thương bàn chân phải 04%, vật tác động: sắc bén. Tổng tỷ lệ thương tích 14%.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2018/HS-ST ngày 21/11/2018 của
Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội “Giết người”; Bị cáo Bùi Quang H
phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93, các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều
46 BLHS năm 1999.
Xử phạt: Trần Văn N 15 (mười lăm) năm tù về tội “Giết người”, thời hạn
chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ 29/12/2017.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 104, các điểm b, h, p khoản 1 Điều 46
BLHS năm 1999.
Xử phạt: Bùi Quang H 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”,
thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật
chứng; án phí; quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 22/11/2018, bị cáo Trần Văn N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Ngày 04/12/2018, bà Phạm Thị Như L, đại diện người bị hại Đặng Khắc
Th1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Văn N.
- Ngày 05/12/2018, bị cáo Bùi Quang H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị
cáo, đại diện người bị hại; sửa án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo Trần Văn N, cho bị cáo Bùi Quang H được hưởng án treo.
- Các bị cáo, Luật sư bào chữa cho bị cáo N cũng đề nghị Hội đồng xét xử
chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, đại diện người bị hại; sửa án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo Trần Văn N, cho bị cáo Bùi Quang H được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa và kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 18h30 ngày 27/12/2017, tại nhà của Bùi Quang H (thôn 3, xã H1, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk), do có mâu thuẫn khi tham gia giao thông trước đó giữa Bùi Quang H và Nguyễn Viết T nên Bùi Quang H, Đặng Khắc Th, Đặng Khắc T1, Đặng Khắc Th1 đã cãi nhau, xô xát với phía gia đình của Nguyễn Viết T, gồm: Nguyễn Viết T, Nguyễn Viết Đ, Nguyễn Viết D và Trần Văn N; trong khi xô xát Bùi Quang H đã dùng cây gỗ đánh trúng đầu Nguyễn Viết Đ gây thương tích 10%; Trần Văn N dùng rựa chém vào đầu Đặng Khắc Th1 gây tử vong. Với hành vi và hậu quả nêu trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2018/HS-ST ngày 21/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999 (nay là điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015); bị cáo Bùi Quang H phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 (nay là khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015), là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Văn N và kháng
cáo xin giảm nhẹ hình phạt của đại diện người bị hại Đặng Khắc Th1 cho bị cáo Trần Văn N, xét thấy: Bị cáo Trần Văn N không có mâu thuẫm gì với bị hại và cũng không rõ nguyên nhân sự việc xảy ra cãi vã, xô xát mà đã có hành vi dùng rựa chém vào đầu của Đặng Khắc Th1 làm anh Th1 tử vong; bị cáo bị truy tố, xét xử về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999 (nay là điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015) có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, chung thân hoặc tử hình. Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, khai báo thành khẩn và tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình người bị hại, được đại diện người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, nên án sơ thẩm cũng đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (nay là các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015) cho bị cáo và xử phạt bị cáo 15 năm tù là không nặng. Tuy sau khi xét xử sơ thẩm, gia đình bị cáo tiếp tục khắc phục cho gia đình người bị hại được 36.000.000 đồng và được đại diện người bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng xét thấy mức hình phạt 15 năm tù mà án sơ thẩm đã quyết định là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của đại diện người bị hại.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo
Bùi Quang H, xét thấy: Bị cáo dùng cây gỗ đánh vào đầu anh Nguyễn Viết Đ gây thương tích 10%. Hành vi của bị cáo bị truy tố, xét xử theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 (nay là khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015) có khung hình phạt cao nhất là 3 năm tù. Đồng thời án sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (nay là các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015) để xử phạt bị cáo 09 tháng tù là đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tiếp tục bồi thường xong phần trách nhiện dân sự theo quyết định của bản án sơ thẩm và được người bị hại có đơn bãi nại đề ngày 04/12/2018 và xin cho bị cáo được hưởng án treo. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có hơn 7 năm công tác trong Quân đội nhân dân Việt Nam, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy cần chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo và đề nghị của người bị hại.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự,
xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm và nghĩa vụ thi hành án không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
. Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí
hình sự phúc thẩm.
Từ nhận định trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e Điều 357 Bộ Luật tố tụng hình
sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn N và đại diện người bị
hại bà Phạm Thị Như L;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Quang H; sửa Bản án hình sự sơ
thẩm số 52/2018/HSST ngày 21/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51
Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Trần Văn Năm 15 (mười lăm) năm tù về tội “Giết người”. Thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 29/12/2017.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều
51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Bùi Quang H 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 17/9/2019).
Giao bị cáo Bùi Quang H cho Ủy ban nhân dân xã H1, thành phố B, tỉnh
Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự, xử
lý vật chứng, án phí sơ thẩm và nghĩa vụ thi hành án không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - Vụ giám đốc kiểm tra I, TANDTC; - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Đắk Lắk; - Cục thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk; - Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh Đắk Lắk; - Phòng HSNV - Công an tỉnh Đắk Lắk; - Cơ quan CSTHAHS - Công an tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - UBND xã H1, TP B; - Bị cáo (qua trại); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; P.HCTP; LT. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Tào |