vanban.org

Bản án 262/2017/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 29/09/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/09/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo c a người bị hại Nguyễn Thị H;

Giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuyên bố bị cáo Huyền Tôn Nữ Túy V phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huyền Tôn Nữ Túy V - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo c a người bị hại Nguyễn Thị H;
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 139 Bộ luật Hình sự; Điều 140 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 262/2017/HS-PT
Ngày: 29/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Lê Tự

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Bá Sơn

Ông Lê Phước Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Kiều, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Ân, Kiểm sát viên.

Vào ngày 29 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 239/TLPT-HS ngày 01 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo: Huyền Tôn Nữ Túy V, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, do c kháng cáo c a người bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 18/2017/HS-ST ngày 21/6/2017 c a Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

* Bị cáo bị kháng cáo:

Huyền Tôn Nữ Túy V; giới tính: Nữ; sinh ngày: 28/07/1970, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi đăng ký HKTT: Đường , thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; chỗ ở: Đường S, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn h a: 12/12; con ông: Bửu B, sinh năm 1933 (đã mất); con bà: Bùi Thị X, sinh năm 1934 (đã mất); anh, chị em ruột c 8 người, bị cáo là con út trong gia đình; chồng: Trương Đình D, sinh năm: 1965; con: C 02 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2000, tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/5/2016. (c mặt)

*Người bị hại kháng cáo:

Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972. Trú tại: Đường T, thành phố H.(c mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Trương Đình D, sinh năm 1965.(c mặt)

Địa chỉ: Đường , thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” c a Huyền Tôn Nữ Túy V:

Huyền Tôn Nữ Tuý V c cửa hàng kinh doanh hàng lưu niệm tại 54 đường C, thành phố H. Do cần tiền để kinh doanh hàng lưu niệm, từ năm 2012 V c thoả thuận vay tiền c a chị Nguyễn Thị H (sinh năm 1972; trú tại 01/4/16 đường T, thành phố H). Việc vay trả diễn ra liên tục từ năm 2012 đến năm 2015. Trong khoảng thời gian từ ngày 18/6/2015 đến ngày 26/8/2015, V viết giấy vay tiền c a chị H 16 lần với tổng số tiền đã nhận là 4.880.000.000 đồng nhưng chưa trả lại tiền cho chị H. Cụ thể như sau:

Lần 1: Ngày 18/6/2015 (tức ngày 03/5/2015 âm lịch) V vay và nhận từ chị H số tiền là 310.000.000 đồng.

Lần 2: Ngày 24/6/2015 (09/5/2015 âm lịch) vay 295.000.000 đồng.

Lần 3: Ngày 29/6/2015 (14/5/2015 âm lịch) vay 315.000.000 đồng.

Lần 4: Ngày 03/7/2015 (18/5/2015 âm lịch) vay 330.000.000 đồng.

Lần 5: Ngày 08/7/2015 (23/5/2015 âm lịch) vay 320.000.000 đồng.

Lan 6: Ngày 12/7/2015 (27/5/2015 âm lịch) vay 330.000.000 đồng.

Lẩn 7: Ngày 19/7/2015 (04/6/2015 âm lịch) vay 320.000.000 đồng.

Lần 8: Ngày 21/7/2015 (06/6/2015 âm lịch) vay 320.000.000 đồng.

Lần 9: Ngày 25/7/2015 (10/6/2015 âm lịch) vay 320.000.000 đồng.

Lần 10: Ngày 29/7/2015 (14/6/2015 âm lịch) vay 290.000.000 đồng.

Lần 11: Ngày 05/8/2015 (21/6/2015 âm lịch) vay 300.000.000 đồng.

Lần 12: Ngày 09/8/2015 (25/6/2015 âm lịch) vay 260.000.000 đồng.

Lần 13: Ngày 13/8/2015 (29/6/2015 âm lịch) vay 300.000.000 đồng.

Lần 14: Ngày 17/8/2015 (04/7/2015 âm lịch) vay 280.000.000 đồng.

Lần 15: Ngày 22/8/2015 (09/7/2015 âm lịch) vay 290.000.000 đồng.

Lần 16: Ngày 26/8/2015 (13/7/2015 âm lịch) vay 300.000.000 đồng.

Do việc vay mượn diễn ra đã nhiều lần trước đây, nên khi vay số tiền 4.880.000.000 đồng, V và chị H không trao đổi về mục đích vay tiền. Khi cần vay tiền thì V điện thoại n i với chị H số tiền cần vay, khi c đ tiền H điện thoại gọi Vđến tại nhà (số 01/4/16 đường T, thành phố H) hoặc quán cà phê c a mình (số 23 đường N, thành phố H) để nhận. Mỗi lần vay và nhận tiền V đều tự viết nội dung vay tiền vào sổ nợ do chị H lưu giữ. Khi đến hạn trả tiền, do không c tiền để trả gốc và lãi nên ngày 26/9/2015, Huyền Tôn Nữ Tuý V bỏ trốn vào thành phố Hồ Chí Minh nhằm chiếm đoạt số tiền 4.880.000.000 đồng đã vay c a chị H. Sau đ , thì bị bắt theo Lệnh truy nã c a Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế.

2. Hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” c a Huyền Tôn Nữ Túy V:

- Chị Lê Thị Phương G (sinh năm 1970; trú tại 49 đường U, thành phố Huê) và Huyền Tôn Nữ Túy V là bạn học chung cấp 3 với nhau. Vào ngày 31/7/2015, cả hai cùng đi dự đám cưới, sau đ V mời chị G về nhà chơi, giới thiệu việc kinh doanh. Tại thời điểm này V nợ chị H một khoản tiền lớn, không c khả năng chi trả. Để c tiền trả nợ chị H, V n i với chị G là "c đơn đặt hàng c a khách du lịch nên cần vốn để đặt hàng", "mùa ni đang là mùa khách đoàn, từ đây đến 2/9 c nhiều hợp đồng quà tặng cho khách đoàn cứ 03 ngày 01 chuyến" và đề nghị chị G cho V vay 50.000.000 đồng để làm vốn kinh doanh. Tin tưởng vào lời n i c a V nên chị G đồng ý, sáng ngày 05/8/2015 G cho V vay 20.000.000 đồng, lấy lý do số tiền này không đ để kinh doanh nên V đề nghị G cho vay tiếp nên chiều cùng ngày cả 02 cùng đến tiệm vàng Bòn Bến E (đường P, thành phố H). Tại đây G bán 01 cây vàng SJC được 32.750.000 đồng và giao số tiền này cho V (tuy giao tiền, nhưng cả 02 thống nhất là V vay c a chị G 01 cây vàng SJC, sau này phải trả lại bằng vàng). Ngay khi lấy được số tiền trên V đã dùng để trả cho chị H. Cũng với th đoạn như trên, ngày 08/8/2015, V tiếp tục nhắn tin cho G nội dung: "chiều ni tau cần 25 triệu đồng đ ng hàng gấp, 5 ngày trả lại sẽ chia lời cho mi...", ngày 13/8/2015 V nhắn "Ui chao ơi G gắng chiều ni giúp V, hàng ni không chậm được bởi rứa sau 03 đến 05 ngày là c tiền lại rồi...", nghĩ V cần tiền gấp để kinh doanh nên G đã mượn c a ông Lê Bá I (bố c a G) 20.000.000 đồng và chiều cùng ngày 13/8/2015 cho V vay. Sau khi chiếm đoạt số tiền trên V đã dùng để trả nợ cho H. Để chị G tin ngày 18/8/2015 V đã dùng số tiền lấy được c a chị Nguyễn Thị O đem đến trả cho Tùng là 20.000.000 đồng tiền gốc và 500.000 đồng tiền lãi, ngay khi đưa tiền trả cho chị G thì V n i "nếu ông chưa cần tiền thì cho tau vay, vì tau đang cần vốn", nghe vậy G tin nên đồng ý cho V vay số tiền 20.000.000 đồng trên. Sau khi chiếm đoạt được tiền c a chị G, V đem trả nợ cho chị H chứ không dùng vào việc kinh doanh hàng lưu niệm như đã n i với chị G.

Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Thừa Thiên Huế xác định giá trị 01 cây vàng SJC tại thời điểm ngày 05/8/2015 là 32.930.000 đồng. Như vậy tổng cộng số tiền V chiếm đoạt c a chị G là 72.930.000 đồng.

- Do cần tiền để trả nợ cho H, ngày 15/8/2015 Vân đến gặp chị Nguyễn Thị O (sinh năm 1969, trú tại 60/4 đường Phạm Thị L, thành phố H) n i: "V cần tiền để kinh doanh hàng lưu niệm, O c thì cho V vay", "V kinh doanh hàng lưu niệm và đ ng hàng cho khách khoảng 05 ngày đến 10 ngày c một chuyến", đồng thời đề nghị O cho vay 50.000.000 đồng. Tin tưởng vào lời n i và việc kinh doanh c a V nên chị O đồng ý cho vay 20.000.000 đồng. Tiếp tục dùng th đoạn cần tiền đ ng hàng gấp, ngày 16/8/2015 V đề nghị vay tiếp nên chị O tiếp tục cho vay thêm 30.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền V chiếm đoạt được c a chị O là 50.000.000 đồng, V dùng trả cho chị H và chị G, chứ không dùng vào việc kinh doanh hàng lưu niệm như đã n i với chị G.

Tại các Kết luận giám định chữ ký, chữ viết c a bị cáo trên các Giấy vay tiền mà bị cáo đã viết và giao cho các bị hại: Nguyễn Thị H; Lê Thị Phương G và Nguyễn Thị O, đều do Huyền Tôn Nữ Túy V viết ra.

* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 18/2017/HSST ngày 21/06/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định:

- Tuyên bố: Bị cáo Huyền Tôn Nữ Túy V phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng Điểm a, Khoản 4, Điều 140; Điểm e, Khoản 2, Điều 139; Điểm b, p Khoản 1, Khoản 2, Điều 46; Điểm g Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 13, Điều 14, Khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 c a UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí án;

Xử phạt: Bị cáo Huyền Tôn Nữ Túy V 13 (mười ba) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và 3 (ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng Điều 50 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Huyền Tôn Nữ Túy V phải chấp hành hình phạt chung c a cả hai tội là 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt tạm giam 04/5/2016.

Ngoài ra, bản án còn tuyên quyết định về phần án phí; quyền kháng cáo theo quy định c a pháp luật.

Ngày 03/7/2017, người bị hại Nguyễn Thị H kháng cáo đề nghị buộc ông Trương Đình D liên đới chịu trách nhiệm dân sự và tăng hình phạt đối với bị cáo Huyền Tôn Nữ Túy V.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 13 năm tù đối với hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là phù hợp. Về trách nhiệm dân sự, ông Trương Đình D không biết việc vay mượn tiền c a vợ nên không c trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại. Do đ , đề nghị không chấp nhận kháng cáo c a người bị hại Nguyễn Thị H.

Người bị hại Nguyễn Thị H phát biểu: Việc vay tiền c a bị cáo diễn ra trong thời k hôn nhân giữa bị cáo với ông Trương Đình D, đề nghị áp dụng các qui định c a Luật Hôn nhân và Gia đình, buộc ông Trương Đình D liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Về hình phạt, đối với hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, bị hại chưa được bồi thường nên không thể được hưởng tình tiết giảm nh là đã khắc phục hậu quả. Vì vậy, đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Lời khai nhận tội c a bị cáo Huyền Tôn Nữ Túy V phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Như vậy, c đ cơ sở kết luận: Do c mối quan hệ vay mượn tiền với nhau từ năm 2012, trong khoảng thời gian từ ngày 18/6/2015 đến ngày 26/8/2015, Huyền Tôn Nữ Túy V viết giấy vay tiền c a chị Nguyễn Thị H 16 lần với tổng số tiền đã nhận là 4.880.000.000 đồng. Khi vay tiền V và chị H không trao đổi về mục đích vay tiền, mỗi lần vay và nhận tiền V đều tự viết nội dung vay tiền vào sổ nợ do chị H lưu giữ. Khi đến hạn trả tiền, do không c khả năng trả nợ nên Huyền Tôn Nữ Tuý V bỏ trốn vào thành phố Hồ Chí Minh và chiếm đoạt số tiền 4.880.000.000 đồng đã vay c a chị H. [2] Ngoài ra, V còn dùng th đoạn gian dối, đưa ra thông tin không đúng sự thật là cần tiền để kinh doanh hàng lưu niệm nhưng thực chất là để trả nợ cho các khoản vay trước đ nhằm chiếm đoạt c a chị Lê Thị Phương G số tiền 72.930.000 đồng và chị Nguyễn Thị O số tiền 50.000.000 đồng. Tổng cộng 122.930.000 đồng. [3] Do c hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo Huyền Tôn Nữ Tuý V phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điểm a, Khoản 4, Điều 140 Bộ luật Hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điểm e, Khoản 2, Điều 139 Bộ luật Hình sự là c căn cứ, đúng pháp luật. [4] Xét kháng cáo c a người bị hại Nguyễn Thị H: Về trách nhiệm dân sự c a ông Trương Đình D, các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện: bị cáo V sử dụng số tiền vay nhiều lần c a chị H với tổng số tiền là 4.880.000.000đ, một phần dùng để mua hàng lưu niệm, một phần dùng để trả gốc, lãi các khoản nợ trước. Như vậy, không phải tất cả số tiền chiếm đoạt bị cáo dùng vào mục đích kinh doanh. Mặt khác, ông Trương Đình D không biết việc vay mượn tiền c a vợ. Do đ , không c cơ sở để buộc ông Trương Đình D phải liên đới chịu trách nhiệm trả số nợ 3.600.000.000đ theo yêu cầu c a người bị hại Nguyễn Thị H. Đối với ngôi nhà tại 11 đường S, thành phố Huế, theo trình bày c a bà H, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thể hiện căn nhà trên đã được vợ chồng ông D tặng cho em là ông Trương Đình M. Nếu c căn cứ xác định việc tặng cho này là hành vi tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ, bà H c thể khởi kiện một vụ kiện dân sự khác. [5] Về yêu cầu tăng hình phạt: Đối với hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, mặc dù bị cáo chưa khắc phục, bồi thường nhưng bị cáo v n được hưởng các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo mức hình phạt 13 năm tù là cao hơn mức khởi điểm c a khung hình phạt, tương xứng với hành vi phạm tội, nên HĐXX thấy không cần thiết phải tăng hình phạt đối với bị cáo. [6] Vì vậy, không c căn cứ chấp nhận kháng cáo c a người bị hại Nguyễn Thị H. [7] Các Quyết định khác c a bản án sơ thẩm không c kháng cáo, không bị kháng nghị c hiêu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. [8] Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các l trên;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận kháng cáo c a người bị hại Nguyễn Thị H;

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Huyền Tôn Nữ Túy V phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng Điểm a, Khoản 4, Điều 140; Điểm e, Khoản 2, Điều 139; Điểm b, p Khoản 1, Khoản 2, Điều 46; Điểm g Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Huyền Tôn Nữ Túy V 13 (mười ba) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và 3 (ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng Điều 50 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Huyền Tôn Nữ Túy V phải chấp hành hình phạt chung c a cả hai tội là 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt tạm giam 04/5/2016.

Các Quyết định khác c a bản án sơ thẩm không c kháng cáo, không bị kháng nghị c hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000đ và án phí dân sự phúc thẩm là 300.000đ.

Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ