- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Huỳnh Lệ T. Chị Phạm Huỳnh Lệ T được ly hôn với anh Võ Minh T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 261/2022/HNGĐ-ST. Ngày: 22/6/2022. V/v tranh chấp: ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG – TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Tuấn; Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Đỗ Công Minh; 2. Ông: Nguyễn Văn Vui; Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông;
Trong ngày 22 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 128/2022/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2022 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2022; quyết định hoãn phiên tòa số 129/2022/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Huỳnh Lệ T – sinh năm xxxx; Địa chỉ: Ấp X, G, huyện G, tỉnh T (có đơn xin xét xử vắng mặt);
2. Bị đơn: Anh Võ Minh T - sinh năm 1993; Địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện G tỉnh T (vắng mặt không lý do);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, nguyên đơn chị Phạm Huỳnh Lệ T trình bày:
Chị và anh Võ Minh T cưới nhau vào tháng 10 năm 2020, được sự tự nguyện và có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống hạnh phúc đến tháng 12 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không có tiếng nói chung nên chị và anh T đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2021 cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể trở lại chung sống được nữa nên chị xin được ly hôn với anh T.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: không có.
* Bị đơn anh Võ Minh T vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Nguyên đơn chị Phạm Huỳnh Lệ T có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn anh Võ Minh T vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xác định quan hệ các bên đang tranh chấp là “xin ly hôn”.
[2] Xét nguyên đơn chị Phạm Huỳnh Lệ T có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Võ Minh T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần 1, lần 2; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điều 227, 228, 233 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị T, anh T.
[3] Xét về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T cưới nhau vào tháng 10 năm 2020, được sự tự nguyện và có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hạnh phúc đến tháng 12 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không có tiếng nói chung nên chị T và anh T đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2021 cho đến nay. Nay chị T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể trở lại chung sống được nữa nên chị xin được ly hôn với anh T. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Mặc dù anh T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh T vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến cũng như đến Tòa án để giải quyết theo yêu cầu khởi kiện của chị T. Điều đó cho thấy anh T không còn quan tâm đến hạnh phúc gia đình, không quan tâm đến chị T. Do đó, Hội đồng xét xử xét cần chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của chị Phạm Huỳnh Lệ T.
[4] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị T trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo qui định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 227, 228, 233 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào các Điều 56 Luật hôn nhân gia đình;
- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Huỳnh Lệ T. Chị Phạm Huỳnh Lệ T được ly hôn với anh Võ Minh T.
2. Về án phí: Chị Phạm Huỳnh Lệ T phải chịu 300.000 đồng án phí HNST nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007691 ngày 24/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông, nên chị T đã nộp xong án phí.
3. Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh TG; - VKSND huyện Gò Công Đông; - THADS huyện Gò Công Đông; - Ủy ban nhân dân xã Tân Phước; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Cao Tuấn |