vanban.org

Bản án 261/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Bé N .

Về hôn nhân: Cho chị Trần Bé N ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ . Về nuôi con chung: Giao Nguyễn Gia K , sinh ngày 12/01/2017 cho anh Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Bé Năm - Nguyễn Văn Đam"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Bé N .
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 261/2019/HNGĐ-ST
Ngày 19 - 11 - 2019
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Hữu Thọ

Ông Nguyễn Hoài Phong

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trúc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 19 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 463/2019/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 9 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 470/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 313/2019/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Bé N , sinh năm 1990.

Cư trú tại: Ấp Lung V , xã Quách P , huyện Đ , tỉnh C . (vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ , sinh năm 1993.

Cư trú tại: Ấp Bờ Đ , xã T , huyện Đ , tỉnh C . (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/9/2019 và trong qúa trình giải quyết nguyên đơn chị Trần Bé N trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn Đ chung sống vào năm 2014, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trần Phán. Quá trình chung sống đến tháng 02/2019 bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng vợ chồng vẫn không thay đổi quan điểm sống. Chị và anh Đ ly thân từ tháng 03/2019 đến nay. Nay chị xác định không thể tiếp tục chung sống cùng anh Đ nên yêu cầu được ly hôn với anh Đ .

- Về con chung: Tên Nguyễn Gia K , sinh ngày 12/01/2017, hiện cháu K do anh Đ nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị đồng ý giao con cho anh Đ tiếp tục nuôi, cấp dưỡng nuôi con không đặt ra.

- Về tài sản chung và nợ: Chị N xác định không có.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn Đ : Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Đ theo quy định pháp luật, nhưng anh Đ không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị N .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn Đ là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia tố tụng nhưng anh Đ vắng mặt không có lý do. Vào ngày 07/11/2019 chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ và chị N .

Về hôn nhân: Chị N và anh Đ chung sống với nhau vào năm 2014, hôn nhân tự nguyện, đến ngày 17/02/2014 đăng ký theo giấy chứng nhận kết hôn số 29 tại Ủy ban nhân dân xã Trần Phán, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, hôn nhân hợp pháp. Chị N yêu cầu ly hôn với anh Đ do các nguyên nhân sau: Quá trình chung sống đến tháng 02/2019 bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hòa giải hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Nay, chị xác định không còn tình cảm với anh Đ nên yêu cầu được ly hôn với anh Đ . Đối với anh Đ , Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và triệu tập hợp lệ anh Đ để tham gia hòa giải nhưng anh Đ vắng mặt không tham gia hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng và không có ý kiến đối với yêu cầu của chị N . Ngoài ra, vợ chồng anh chị đã ly thân từ tháng 3/2019 đến nay và cũng không chung sống cùng nhau, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm ai, nên đã vi phạm nghiêm trong quyền, nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình…”. Viện dẫn theo điều luật quy định trên thấy rằng, tình trạng hôn nhân giữa chị Năm và anh Đam đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Năm về việc ly hôn với anh Đam.

Về con chung: Tên Nguyễn Gia K , sinh ngày 12/01/2017, hiện cháu K đang sống cùng anh Đ . Khi ly hôn chị Năm đồng ý giao con cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử thấy rằng, tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định “…vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi con căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con…”. Viện dẫn từ điều luật trên xét thấy, chị N đồng ý giao cháu K cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Hơn nữa, từ khi ly thân đến nay cháu K đang sống cùng anh Đ , để không làm ảnh hưởng môi trường sống của cháu K . Do đó, cần giao cháu K cho anh Đ nuôi dưỡng. Chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cấp dưỡng nuôi con anh Đ chưa yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ: Chị N xác định không có

Án phí dân sự sơ thẩm: Tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định: Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Bé N .

1. Về hôn nhân: Cho chị Trần Bé N ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ .

2. Về nuôi con chung: Giao Nguyễn Gia K , sinh ngày 12/01/2017 cho anh Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cấp dưỡng nuôi con anh Đ chưa yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị N phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0009773 ngày 26/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị N , anh Đ có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ