vanban.org

Bản án 260/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thu Huyền, xử cho chị Tạ Thu Huyền được ly hôn với anh Bùi Văn Tuấn.

Về con chung: Giao cháu Bùi Gia Huy, sinh ngày 11 tháng 01 năm 2016 và cháu Bùi Nguyên An, sinh ngày 22/01/2019 cho chị Huyền trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có thay đổi khác. Anh Tuấn được quyền đi lại, thăm nom con chung không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi co… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H - Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thu Huyền, xử cho chị Tạ Thu Huyền được ly hôn với anh Bùi Văn Tuấn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀI ĐỨC
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 260/HNGĐ-ST
Ngày: 27/6/2024
V/v tranh chấp hôn nhân gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đoan.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Toản

Bà Nguyễn Thị Lệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Chung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hoài Đức - Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức – Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà; Ông Lưu Thế Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hoài Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 413/2023 ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21/5/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 47/2024/QĐST – HNGĐ, ngày 10/6/2024, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Tạ Thu Huyền -sinh năm 1990; HKTT; Số nhà 90, khu tập thêt 75, TT Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, tp Hà Nội; Có mặt

- Bị đơn: Anh Bùi Văn Tuấn - sinh năm 1990;HKTT; Số nhà 90, khu tập thêt 75, TT Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, tp Hà Nội;Tạm trú; Lô 6, khu dịch vụ Rền Đồng thuộc thôn Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Tạ Thu Huyền trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Tuấn kết hôn ngày 18 tháng 12 năm 2014 đăng ký kết hôn tại UBND Thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống về cuộc sống gia đình, cách nuôi dạy con dẫn đến cuộc sống chung không có hạnh phúc, vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Sau khi mâu thuẫn anh Tuấn chuyển ra ngoài ở trọ tại thôn Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đến nay, từ đó hai bên không quan tâm nhau, việc ai người đó làm, kinh tế để riêng, nay tôi thấy tình cảm giữa tôi và anh Tuấn không còn xin được ly hôn.

-Về con chung: Vợ chồng sinh được 02 cháu gồm; Cháu Bùi Gia Huy, sinh ngày 11 tháng 01 năm 2016 và cháu Bùi Nguyên An, sinh ngày 22/01/2019, hiện tại cả 02 cháu đang ở với tôi. Giải quyết ly hôn tôi xin được nuôi cả hai con và không yêu cầu anh Tuấn phải cấp dưỡng nuôi con chung với tôi. Nếu được nuôi con thì tôi đảm bảo cuộc sống tốt cho các con cụ thể mẹ con tôi đang ở nhà ông bà ngoại, ông bà ngoại không có con trai, tôi là con gái lớn, còn thu nhập của tôi, tôi làm kinh doanh về thời trang, thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 20-25.000.000đ nên tôi đủ điều kiện về kinh tế cũng như điều kiện về mọi mặt để nuôi dạy các con

-Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết,

*Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn anh Bùi Văn Tuấn vắng mặt nên không có quan điểm trình bày:

*UBND xã Kim Chung, huyện Hoài Đức cho biết; Anh Bùi Văn Tuấn - sinh năm 1990;HKTT; Số nhà 90, khu tập thêt 75, TT Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, tp Hà Nội, hiện tại anh Tuấn đang tạm trú tại Lô 6, khu dịch vụ Rền Đồng thuộc thôn Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Nhiều lần Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức báo gọi anh Tuấn đến làm việc, UBND xã Kim Chung, huyện Hoài Đức đã giao giấy triệu tập của Tòa án cho anh Tuấn, việc anh Tuấn không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án đây là ý thức chấp hành pháp luật của anh Tuấn. Nay chị Huyền xin ly hôn anh Tuấn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức giải quyết vụ án theo qui định của pháp luật.

*UBND thị trấn Trạm Trôi cho biết: Chị Huyền kết hôn với anh Tuấn ngày 18/12/2014 đăng ký kết hôn tại UBND Thị trấn trạm trôi, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Sau kết hôn anh Tuấn về gia đình chị Huyền sinh sống cùng với bố mẹ đẻ chị Huyền. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nên anh Tuấn bỏ ra ngoài thuê trọ, thỉnh thoảng anh Tuấn có về thăm con. Nay chị Huyền xin ly hôn anh Tuấn, quan điểm của UBND thị trấn Trạm Trôi đề nghị Tòa án giải quyết theo qui định của pháp luật

Chị Huyền và anh Tuấn có sinh được 02 cháu là Cháu Bùi Gia Huy, sinh ngày 11 tháng 01 năm 2016, cháu Bùi Nguyên An, sinh ngày 22/01/2019, hiện tại cả 02 cháu đang ở với chị Huyền, chị Huyền vẫn cho các cháu đi học, nuôi dạy các cháu tốt, UBND Thị trấn Trạm Trôi, hội phụ nữ và ban thương binh xã hội thị trấn Trạm Trôi không nhận được bất cứ văn bản giấy tờ nào thể hiện cháu bị chị Huyền ngược đãi hoặc không cho đi học, nay chị Huyền xin ly hôn anh Tuấn và xin được nuôi cả 02 cháu, quan điểm của UBND Thị trấn Trạm Trôi đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo qui định của pháp luật.

*Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức phát biểu ý kiến:

* Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của pháp luật, bị đơn cần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật.

* Ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện của chị Tạ Thu Huyền, xử cho chị Huyền được ly hôn với anh Tuấn.Về con chung: vợ chồng sinh được 02 cháu là Cháu Bùi Gia Huy, sinh ngày 11 tháng 01 năm 2016, cháu Bùi Nguyên An, sinh ngày 22/01/2019. Hiện tại các cháu đang ở với chị Huyền, nguyện vọng của cháu Huy được ở với chị Huyền, nên giao cả 02 cháu cho chị Huyền trực tiếp nuôi dưỡng các cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có thay đổi khác. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Huyền không yêu cầu anh Tuấn phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Huyền không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giành quyền khởi kiện chia tài sản sau ly hôn cho chị Huyền và anh Tuấn nếu anh chị có yêu cầu. Về án phí: Chị Huyền phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”. Anh Bùi Văn Tuấn có hộ khẩu thường trú tại Số nhà 90, khu tập thêt 75, TT Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, tp Hà Nội. Hiện anh Tuấn đang tạm trú tại lô 6, khu dịch vụ Rền Đồng thuộc thôn Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Căn cứ Điểm a, Khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

Anh Bùi Văn Tuấn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Tuấn là đúng quy định tại Khoản 2, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về nội dung:

[2.1]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Chị Tạ Thu Huyền và anh Bùi Văn Tuấn kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội năm 2014, vì vậy quan hệ hôn nhân của anh chị là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Theo lời khai của chị Huyền, sau khi kết hôn,vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Tuấn chơi bời không chịu làm ăn và không quan tâm đến chị và các con, sau khi mâu thuẫn anh Tuấn đã dọn ra ngoài thuê trọ, khi chị Huyền có đơn xin ly hôn chị Huyền và Tòa án cũng đã thông báo cho anh Tuấn biết nhưng anh Tuấn trốn tránh không đến để giải quyết việc chị Huyền xin ly hôn anh, vợ chồng không quan tâm nhau, vợ chồng ly thân từ năm 2019 đến nay, nhiều lần Tòa án báo gọi anh Tuấn đến làm việc nhưng anh Tuấn không đến chứng tỏ anh Tuấn không có thiện chí để hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Huyền, xử cho Chị Huyền được ly hôn với anh Bùi Văn Tuấn.

[2.2]. Về con chung: Chị Huyền và anh Tuấn sinh được 02 cháu là Cháu Bùi Gia Huy, sinh ngày 11 tháng 01 năm 2016, cháu Bùi Nguyên An, sinh ngày 22/01/2019, hiện tại các cháu đang ở với chị Huyền, nguyện vọng của cháu Huy được ở với chị Huyền. Mặt khác hiện tại anh Tuấn không có chỗ ở mà phải thuê trọ, thu nhập không ổn định, chị Huyền có chỗ ở ổn định, có thu nhập và có ông bà ngoại chăm sóc nên HĐXX giao cả 02 cháu cho chị Huyền trực tiếp nuôi dưỡng các cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có thay đổi khác, ghi nhận sự tự nguyện của chị Huyền không yêu cầu anh Tuấn phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp qui định của pháp luật

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Tạ Thu Huyền không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Giành quyền khởi kiện chia tài sản sau ly hôn nếu có căn cứ chị Huyền và anh Tuấn có tài sản chung, và nợ chung.

. Về án phí: Chị Tạ Thu Huyền phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 82,83,84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thu Huyền, xử cho chị Tạ Thu Huyền được ly hôn với anh Bùi Văn Tuấn.

2.Về con chung: Giao cháu Bùi Gia Huy, sinh ngày 11 tháng 01 năm 2016 và cháu Bùi Nguyên An, sinh ngày 22/01/2019 cho chị Huyền trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có thay đổi khác. Anh Tuấn được quyền đi lại, thăm nom con chung không ai được cản trở.

-Về cấp dưỡng nuôi con chung; Ghi nhận sự tự nguyện của chị Huyền không yêu cầu anh Tuấn phải cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Huyền không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Giành quyền khởi kiện chia tài sản sau ly hôn nếu có căn cứ chị Huyền và anh Tuấn có tài sản chung và nợ chung.

4. Về án phí: Chị Tạ Thu Huyền phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) là tiền tạm ứng án phí chị Huyền đã nộp là theo biên lai thu số 0016768 ngày 11 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Xác nhận chị Huyền đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ